Tiếp điểm khô

22.08.2026 Phí Ngọc Tùng
Tóm tắt: Tiếp điểm khô (tiếng Anh: dry contact) là cặp tiếp điểm cơ khí hoặc bán dẫn KHÔNG tự mang điện áp — nó chỉ đóng hoặc mở mạch, còn nguồn điện do thiết bị nhận tín hiệu cấp. Trong hệ báo cháy, đây là cách đấu nối phổ biến nhất giữa tủ trung tâm với thiết bị truyền tin, module vào/ra, quạt, thang máy: NO là tiếp điểm thường mở, NC là thường đóng, COM là chân chung. TCVN 14538:2025 gọi đây là "giao diện song song" và quy định đầu ra báo lỗi phải là tiếp điểm không mang điện áp hoặc kiểu cực thu hở.

Tiếp điểm khô là gì?

Tiếp điểm khô (tiếng Anh: dry contact, còn gọi volt-free contact hoặc potential-free contact; tiếng Việt kỹ thuật: tiếp điểm không mang điện áp) là cặp tiếp điểm — cơ khí của rơ-le, hoặc bán dẫn của opto/MOSFET — chỉ làm đúng một việc: đóng hoặc mở một mạch điện. Bản thân nó không cấp ra điện áp nào; nguồn điện chạy qua tiếp điểm là do thiết bị phía nhận tín hiệu cấp.

Gọi là “khô” chính vì lý do đó: không có điện áp “ướt” sẵn trên chân ra. Ngược lại, tiếp điểm ướt (wet contact) là đầu ra đã mang sẵn điện áp — ví dụ ngõ ra 24VDC của tủ báo cháy dùng cấp nguồn cho chuông, đèn.

Ý chính

  • NO (Normally Open — thường mở): bình thường hở mạch, khi có sự kiện thì đóng lại. NC (Normally Closed — thường đóng): bình thường kín mạch, khi có sự kiện thì hở ra. COM là chân chung của cả hai.
  • Tiếp điểm khô là cách ly điện giữa hai hệ thống — tủ báo cháy và thiết bị được điều khiển không dùng chung nguồn, không kéo nhiễu hay sự cố sang nhau.
  • không tự báo được đứt dây. Vì vậy trong hệ báo cháy, đường dây tới tiếp điểm phải được giám sát bằng điện trở cuối đường dây (EOL).
  • Với thiết bị truyền tin báo cháy, TCVN 14538:2025 xếp kiểu đấu này vào “giao diện song song” và quy định rõ ngưỡng điện trở, thời gian tác động (xem mục dưới).
  • Trong thực tế lắp đặt: ưu tiên dùng NC cho các mạch an toàn quan trọng, vì đứt dây cũng cho trạng thái giống như sự kiện — hỏng theo hướng an toàn.

Đọc ký hiệu NO, NC, COM

Trên bảng đấu dây của tủ trung tâm, module hay công tắc giám sát, một bộ tiếp điểm thường có ba chân:

Ký hiệu Tên đầy đủ Trạng thái bình thường Khi có sự kiện
COM Common — chân chung Chân gốc, luôn nối vào một trong hai chân còn lại
NO Normally Open — thường mở Hở mạch (không thông với COM) Đóng lại, thông với COM
NC Normally Closed — thường đóng Kín mạch (thông với COM) Hở ra, ngắt khỏi COM

“Bình thường” ở đây nghĩa là trạng thái khi thiết bị chưa được kích hoạt và chưa cấp điện — không phải “trạng thái lúc hệ đang chạy”. Đây là chỗ hay hiểu nhầm nhất khi đấu dây.

Một bộ có đủ cả ba chân COM–NO–NC gọi là SPDT (một cực, hai tiếp điểm) — kiểu này rất phổ biến ở công tắc áp lựccông tắc dòng chảy của hệ chữa cháy nước.

Tiếp điểm khô trong tiêu chuẩn Việt Nam

Tiêu chuẩn gọi tên trực tiếp kiểu đấu nối này là TCVN 14538:2025 — thiết bị truyền tin báo sự cố cháy (xem toàn văn TCVN 14538:2025). Trong tiêu chuẩn, FDAShệ thống báo cháy tự độngSPT là thiết bị truyền tin.

TCVN 14538:2025, mục 5.2.1.4.2, CHÚ THÍCH 1: “Trong thực tế, các loại giao diện giữa SPT và FDAS có thể bao gồm: — Giao diện song song: ví dụ như kết nối giữa tủ trung tâm báo cháy và thiết bị truyền tin báo cháy bằng tiếp điểm khô (NO/NC); — Giao diện nối tiếp: ví dụ như kết nối qua cổng RS-232 hoặc RS-485 sử dụng giao thức chuẩn (như Modbus RTU, BACnet); — Giao diện độc quyền…”

Phụ lục G của tiêu chuẩn quy định cụ thể cho giao diện song song. Đây là các con số kỹ thuật cần biết khi nghiệm thu đấu nối:

Yêu cầu Quy định (TCVN 14538:2025, Phụ lục G)
Số lượng tối thiểu Hai đầu vào (một báo cháy, một báo lỗi của FDAS) và một đầu ra báo lỗi (G.1.1)
Ngưỡng nhận biết đổi trạng thái đầu vào Điện trở cuối đường dây thay đổi từ 40 % trở lên và kéo dài hơn 200 ms (G.1.2)
Kiểu đầu ra báo lỗi Tiếp điểm không mang điện áp, hoặc kiểu cực thu hở — nếu là cực thu hở phải tiêu thụ được tối thiểu 20 mA (G.1.3.1)
Trạng thái bình thường của đầu ra lỗi Đóng, điện trở < 100 Ω (G.1.3.2 a)
Khi có lỗi Mở, điện trở > 500 kΩ (G.1.3.2 b, c)
Thời gian kích hoạt đầu ra lỗi Tương ứng thời gian tồn tại của lỗi, nhưng không dưới 1 s (G.1.3.2 d)
Giám sát giao diện Kết nối với FDAS phải được SPT giám sát; thời gian phát hiện và báo lỗi giao diện không quá 90 s (5.2.1.4.1)

Chú ý cách diễn đạt của G.1.3.2: đầu ra báo lỗi ở trạng thái bình thường là ĐÓNG — tức tiêu chuẩn chọn kiểu NC cho mạch báo lỗi, đúng nguyên tắc hỏng theo hướng an toàn đã nói ở trên.

Với module vào/ra của hệ báo cháy, tiêu chuẩn sản phẩm tương ứng là TCVN 7568-18:2016 (ISO 7240-18:2009) — Hệ thống báo cháy, Phần 18: Thiết bị vào/ra; đây là tiêu chuẩn được TCVN 7568-14:2025 viện dẫn trong danh mục tài liệu áp dụng.

Vì sao phải giám sát đường dây tới tiếp điểm

Điểm yếu cố hữu của tiếp điểm khô: đường dây bị đứt trông giống hệt trạng thái “chưa có sự kiện” nếu dùng kiểu NO. Tủ trung tâm không phân biệt được “không có cháy” với “dây tới nút ấn đã đứt từ tháng trước”.

Cách xử lý chuẩn của ngành là mắc một điện trở cuối đường dây (EOL — End Of Line) ở đầu xa nhất của mạch. Tủ liên tục đo trở kháng đường dây và phân biệt được ba trạng thái thay vì hai:

  • Bình thường — đo đúng giá trị điện trở EOL.
  • Kích hoạt — trở kháng giảm mạnh (tiếp điểm NO đóng, nối tắt qua EOL).
  • Sự cố — hở mạch (đứt dây, trở kháng vô cùng lớn) hoặc chập mạch (trở kháng gần bằng không).

Đây chính là cơ sở của ngưỡng “thay đổi 40 % kéo dài hơn 200 ms” trong Phụ lục G TCVN 14538:2025: sai lệch nhỏ và thoáng qua thì bỏ qua (chống báo giả do nhiễu), sai lệch đủ lớn và đủ lâu mới coi là đổi trạng thái. Xem thêm cách đấu và giám sát trong mục từ module vào ra báo cháy.

Dùng ở đâu trong hệ thống báo cháy

Vị trí Vai trò của tiếp điểm khô
Tủ trung tâm → thiết bị truyền tin Đầu ra NO/NC của tủ báo trạng thái cháy/lỗi sang thiết bị truyền tin báo cháy. TCVN 14538:2025 gọi là giao diện song song.
Tủ trung tâm → gateway Một trong hai cách đấu của gateway báo cháy khi hệ đã có tủ: lấy tín hiệu từ ngõ ra tiếp điểm khô của tủ rồi đẩy trạng thái lên phần mềm/ứng dụng.
Thiết bị chữa cháy nước → hệ báo cháy Công tắc áp lực, công tắc dòng chảy, van giám sát của hệ sprinkler đưa trạng thái về tủ qua tiếp điểm khô.
Hệ báo cháy → thiết bị liên động Đầu ra tiếp điểm khô điều khiển quạt tăng áp, quạt hút khói, thang máy về tầng trệt, van chặn gas, cửa ngăn cháy, rèm ngăn cháy, hệ loa sơ tán.
Hệ báo cháy → hệ tòa nhà (BMS) Khi không dùng giao thức số, tiếp điểm khô là cách bắt tay đơn giản và ít hỏng nhất giữa hai hệ của hai nhà sản xuất khác nhau.

Ví dụ thiết bị thực tế trên thị trường Việt Nam: tủ trung tâm có dây FireSmart dòng FCP và FSP có 02 ngõ ra NO/NC và 01 ngõ ra 24VDC, giám sát đứt/chập bằng điện trở EOL; thiết bị truyền tin FCOM-1 được thiết kế để đấu vào ngõ ra NO/NC của mọi tủ báo cháy; module giám sát – điều khiển WBM có một đầu vào không dây, một đầu vào có dây và một đầu ra, đáp ứng TCVN 7568-18 (thiết bị vào/ra) và TCVN 7568-17 (cách ly ngắn mạch); riêng WBM-6 giám sát hai đầu vào cho áp suất, lưu lượng, alarm valve. (Thông số dòng và điện áp chịu tải của từng bộ tiếp điểm lấy theo tài liệu kỹ thuật của nhà sản xuất — không suy đoán từ chủng loại thiết bị.)

Phân biệt với khái niệm dễ nhầm

Khái niệm Khác tiếp điểm khô ở điểm nào
Tiếp điểm ướt (wet contact) / ngõ ra có điện áp Đầu ra đã mang sẵn điện áp, cắm thẳng vào tải là chạy — ví dụ ngõ ra 24VDC cấp cho chuông, đèn chớp. Tiếp điểm khô thì phải có nguồn từ phía nhận.
Cực thu hở (open collector) Là đầu ra bán dẫn kéo xuống mát, cũng không mang điện áp ra nhưng có phân cực (phải đấu đúng chiều) và chỉ chịu được dòng nhỏ. TCVN 14538:2025 (G.1.3.1) chấp nhận cả hai kiểu cho đầu ra báo lỗi, với điều kiện cực thu hở tiêu thụ được tối thiểu 20 mA.
Giao diện nối tiếp (RS-232/RS-485, Modbus, BACnet) Truyền dữ liệu số nhiều trạng thái trên một đường; tiếp điểm khô chỉ truyền một bit đóng/mở. Đổi lại, tiếp điểm khô đơn giản, không phụ thuộc giao thức, hai hãng bất kỳ vẫn đấu được với nhau.
Đầu ra rơ-le lập trình được Vẫn là tiếp điểm khô về bản chất điện, chỉ khác ở chỗ điều kiện kích hoạt được cấu hình bằng phần mềm (cause & effect) thay vì cố định.

Lỗi thường gặp khi đấu tiếp điểm khô

  • Đấu nhầm NO thành NC — hệ chạy “bình thường” suốt và chỉ lộ ra khi thử tải: thiết bị liên động chạy liên tục, hoặc ngược lại không bao giờ chạy. Luôn thử bằng cách kích giả sự kiện, không tin vào nhãn in trên vỏ.
  • Quên điện trở cuối đường dây — mất khả năng phát hiện đứt dây; tủ vẫn báo “bình thường” trong khi mạch đã hỏng.
  • Cấp điện áp vào chân tiếp điểm khô — coi nó như ngõ ra có nguồn và đấu tải trực tiếp, dễ dính tiếp điểm hoặc hỏng rơ-le.
  • Vượt dòng/điện áp cho phép của tiếp điểm — đấu thẳng động cơ quạt hay contactor lớn vào tiếp điểm nhỏ. Cách đúng là dùng tiếp điểm khô kích một rơ-le trung gian, rơ-le đó mới đóng tải công suất.
  • Đi chung máng với cáp động lựcTCVN 7568-14:2025 (mục 5.14.7) không cho phép lắp đặt chung dây tín hiệu của hệ thống báo cháy với dây tín hiệu và cáp điện của hệ khác trong cùng điều kiện; đi chung dễ gây nhiễu và báo giả.
  • Không phân biệt tín hiệu báo cháy với tín hiệu sự cố — dồn cả hai vào một tiếp điểm khiến nơi nhận không biết đang cháy hay chỉ mất nguồn. Phụ lục G TCVN 14538:2025 yêu cầu tối thiểu hai đầu vào riêng cho hai loại tín hiệu này.

Câu hỏi thường gặp

Tiếp điểm khô và tiếp điểm ướt khác nhau thế nào?
Tiếp điểm khô không mang điện áp — nó chỉ đóng/mở mạch, nguồn do thiết bị phía nhận cấp. Tiếp điểm ướt (ngõ ra có điện áp) đã sẵn điện, đấu thẳng vào tải là hoạt động. Trên tủ báo cháy thường có cả hai: ngõ ra NO/NC là tiếp điểm khô, còn ngõ ra 24VDC cấp cho chuông/đèn là loại có điện áp.

NO và NC nên chọn cái nào?
Với mạch an toàn nên ưu tiên NC: khi đứt dây, mạch cũng hở giống như khi có sự kiện, nên sự cố được phát hiện thay vì bị bỏ qua. TCVN 14538:2025 đi theo đúng logic này — đầu ra báo lỗi ở trạng thái bình thường phải ĐÓNG (< 100 Ω) và MỞ (> 500 kΩ) khi có lỗi.

Tủ báo cháy hãng nào cũng đấu được với thiết bị truyền tin qua tiếp điểm khô không?
Về nguyên tắc là được, vì ngõ ra NO/NC là ngõ chuẩn có trên hầu hết tủ báo cháy có dây, không phụ thuộc giao thức riêng của hãng. Nhưng phải kiểm ba việc: tủ còn ngõ ra rảnh không, ngõ đó tách riêng tín hiệu cháy với tín hiệu sự cố chưa, và dòng/điện áp chịu được của tiếp điểm có phù hợp không — các thông số này lấy theo tài liệu của nhà sản xuất tủ.

Tiếp điểm khô có tự phát hiện đứt dây không?
Không. Bản thân tiếp điểm chỉ có hai trạng thái đóng/mở. Muốn phát hiện đứt hoặc chập dây, phải mắc điện trở cuối đường dây (EOL) và để thiết bị đo trở kháng đường dây — đây là yêu cầu bắt buộc của hệ báo cháy, không phải tùy chọn.

Ngoài tiếp điểm khô còn cách nào nối tủ báo cháy với thiết bị truyền tin?
Có. TCVN 14538:2025 (5.2.1.4.2) nêu ba nhóm giao diện: song song (tiếp điểm khô NO/NC), nối tiếp (RS-232/RS-485 với giao thức chuẩn như Modbus RTU, BACnet) và giao diện độc quyền của nhà sản xuất, kể cả không dây. Nhà sản xuất phải công bố rõ loại giao diện sử dụng trong tài liệu kỹ thuật.

“Thường mở”, “thường đóng” là tính ở lúc nào?
Tính ở trạng thái chưa kích hoạt và chưa cấp điện cho thiết bị, chứ không phải trạng thái lúc hệ đang vận hành. Hiểu nhầm điểm này là nguyên nhân phổ biến nhất của việc đấu ngược NO/NC.

Xem thêm

Nguồn tham khảo

  • TCVN 14538:2025 — Thiết bị truyền tin báo sự cố cháy (mục 5.2.1.4.1, 5.2.1.4.2 CHÚ THÍCH 1; Phụ lục G: G.1.1, G.1.2, G.1.3.1, G.1.3.2). Tiêu chuẩn — áp dụng tự nguyện, trừ phần được viện dẫn bắt buộc.
  • TCVN 7568-18:2016 (ISO 7240-18:2009) — Hệ thống báo cháy, Phần 18: Thiết bị vào/ra. Được TCVN 7568-14:2025 viện dẫn trong danh mục tài liệu áp dụng.
  • TCVN 7568-14:2025 — Thiết kế, lắp đặt hệ thống báo cháy cho nhà và công trình (mục 5.14.7 — không đi chung dây tín hiệu báo cháy với cáp hệ khác).
  • Tài liệu kỹ thuật nhà sản xuất FireSmart — tủ FCP/FSP (02 ngõ ra NO/NC + 01 ngõ ra 24VDC, giám sát EOL), FCOM-1 (đấu vào ngõ ra NO/NC của tủ báo cháy), module WBM và WBM-6.

Biên tập & thẩm định: PCCC.vn · Cập nhật lần cuối: 22/8/2026.

Biên tập & thẩm định: Phí Ngọc Tùng · Cập nhật lần cuối: 22/08/2026

Nội dung được kiểm chứng từ văn bản pháp luật và tiêu chuẩn PCCC hiện hành — xem phương pháp biên tập. Thấy thông tin chưa chính xác? Góp ý cho wiki.

Cập nhật bài viết nổi bật

Dịch vụ thuê hệ thống PCCC tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh - 15k/ngày

Dịch vụ thuê hệ thống PCCC tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh – 15k/ngày

Thuê hệ thống chữa cháy và báo cháy tự động Dịch vụ cho thuê hệ thống PCCC giúp giảm gánh nặng đáng kể đối với những...
Đọc thêm
24 Thg 08
Thiết bị báo cháy cục bộ - một số lỗi thường gặp và cách khắc phục

Thiết bị báo cháy cục bộ – một số lỗi thường gặp và cách khắc phục

Thiết bị báo cháy cục bộ là thiết bị tự động phát hiện và cảnh báo cháy bằng âm thanh. Các thiết bị báo cháy cục...
Đọc thêm
24 Thg 09
Biện pháp thi công - hạng mục PCCC - Mẫu

Biện pháp thi công – hạng mục PCCC – Mẫu

Biện pháp thi công PCCC là tài liệu mô tả trình tự, phương pháp và giải pháp an toàn khi lắp đặt hệ thống phòng...
Đọc thêm
01 Thg 05
TOP