BS EN 12101-13:2022: thiết kế, nghiệm thu hệ thống tăng áp
Số hiệu: BS EN 12101-13:2022 (EN 12101-13:2022) · Loại văn bản: Tiêu chuẩn Anh/châu Âu (BS EN) · Cơ quan ban hành: CEN phê duyệt 14/02/2022, BSI xuất bản bản Anh 30/09/2022
Tên đầy đủ: Smoke and heat control systems – Part 13: Pressure differential systems (PDS) – Design and calculation methods, installation, acceptance testing, routine testing and maintenance · Hiện hành
Quan hệ: cùng BS EN 12101-6:2022 (bộ thiết bị tăng áp) thay thế BS EN 12101-6:2005 đã rút.
Tại Việt Nam: không bắt buộc. Mặc định thiết kế theo Phụ lục D QCVN 06:2022/BXD; chỉ thay đổi yêu cầu của Phụ lục D khi có thiết kế bảo vệ chống khói theo tiêu chuẩn được phép áp dụng và thỏa D.1.1 (Điều D.1.7, Sửa đổi 1:2023).
- BS EN 12101-13:2022 là tiêu chuẩn châu Âu về thiết kế, lắp đặt, nghiệm thu, kiểm tra định kỳ và bảo trì hệ thống tăng áp (hệ thống chênh áp). Quy tắc dành cho nhà cao tới 60 m; nhà cao hơn phải bổ sung tính toán, mô phỏng.
- Sáu cấp A–F của bản 2005 bị bỏ, thay bằng Cấp 1 và Cấp 2: chênh áp ≥ 30 Pa khi cửa đóng, gió qua cửa mở ≥ 1 m/s (Cấp 1) hoặc ≥ 2 m/s (Cấp 2), lực mở cửa ≤ 100 N.
- Hệ thống phải sẵn sàng sau 60 giây, chạy đủ công suất sau 120 giây, và lấy lại áp hoặc vận tốc trong 5 giây khi cửa đóng/mở.
- Tiêu chuẩn quy định chi tiết cách nghiệm thu (đo ở bao nhiêu tầng, đo thế nào) và lịch kiểm tra hằng ngày, hằng tháng, hằng năm.
Từ năm 2022, bộ tiêu chuẩn châu Âu về tăng áp chống khói tách làm hai phần. Phần 6 chỉ còn quy định bộ thiết bị (quạt, van xả áp, cảm biến, tủ điều khiển thử chung một bộ). Phần 13, BS EN 12101-13:2022, là phần kỹ sư thiết kế và đơn vị nghiệm thu cần: hệ thống phải đạt gì, bố trí lấy gió và xả gió ra sao, đo kiểm thế nào khi bàn giao và bảo trì thế nào trong suốt vòng đời công trình. Bài này tóm tắt các yêu cầu chính theo bản BSI xuất bản 30/09/2022 và đặt cạnh QCVN 06:2022/BXD, quy chuẩn bắt buộc ở Việt Nam. Đối tượng đọc: kỹ sư cơ điện, đơn vị tư vấn thẩm tra, nhà thầu thi công và ban quản lý toà nhà.
Ghi chú: tiêu chuẩn BSI/CEN có bản quyền. pccc.vn chỉ tóm tắt và chú giải, không đăng toàn văn hay bản dịch. Bản gốc mua tại BSI hoặc cơ quan tiêu chuẩn quốc gia thành viên CEN.
BS EN 12101-13:2022 là gì, áp dụng cho công trình nào?
Tiêu chuẩn đưa ra phương pháp tính, hướng dẫn và yêu cầu cho thiết kế, lắp đặt, nghiệm thu, kiểm tra định kỳ và bảo trì hệ thống chênh áp (PDS). Hệ thống này giữ khói lại ở một vách ngăn có khe hở, điển hình là cánh cửa (đóng hoặc mở), để đường thoát nạn và đường tiếp cận chữa cháy còn điều kiện chịu đựng được. Phạm vi gồm buồng thang, hành lang, sảnh dùng thoát nạn và không gian chữa cháy được bảo vệ cho lực lượng cứu hỏa.
Ba mục tiêu thiết kế được nêu riêng: bảo vệ đường thoát nạn; bảo vệ đường chữa cháy để lính cứu hỏa lên tới tầng cháy mà không cần mặt nạ thở; và bảo vệ tài sản (phòng máy chủ, thiết bị nhạy với khói). Tiêu chuẩn khuyến nghị thống nhất mục tiêu với cơ quan có thẩm quyền ngay từ đầu, vì mục tiêu quyết định gần như toàn bộ thiết kế.
Giới hạn chiều cao là điểm cần nhớ. Quy tắc trong tiêu chuẩn dành cho nhà cao tới 60 m. Nhà cao hơn vẫn phải đạt cùng yêu cầu, nhưng phải bổ sung phương pháp tính toán và kiểm chứng (phân tích toán học, mô phỏng CFD); Phụ lục D chỉ nêu yêu cầu cho các phương pháp đó.
Một số nguyên tắc chung ở Điều 5.1:
- Thiết kế cho một đám cháy tại một thời điểm. Hệ thống phải chạy suốt thời gian yêu cầu theo quy định quốc gia (ví dụ 30, 60, 90 phút).
- Chênh áp và vận tốc chỉ cần đạt ở tầng cháy khi vận hành, nhưng khi nghiệm thu phải chứng minh đạt được ở mọi tầng (không cần cùng lúc). Không được để hệ thống hút khói vào không gian được bảo vệ.
- Kích hoạt tự động bằng đầu báo khói theo bộ EN 54, mỗi tầng có ít nhất một đầu báo đặt phía không được bảo vệ của cửa (hành lang hoặc sảnh). Đầu báo trong buồng thang báo trước thì không được kích hoạt hệ thống.
- Mỗi đường thoát nạn được bảo vệ là một hệ thống độc lập (quạt, ống, điều khiển riêng). Buồng thang và giếng thang máy chữa cháy chung một sảnh được tính là một hệ thống.
- Hiệu ứng ống khói, gió ngoài trời, sức cản dòng khí phải được xét đến trong thiết kế.
Cấp 1 và Cấp 2: bốn yêu cầu thiết kế bắt buộc
Bảng 1 của tiêu chuẩn chỉ còn hai cấp hệ thống. Thiết kế và nghiệm thu đều phải chứng minh đạt các trị số sau:
| Thông số | Cấp 1 | Cấp 2 |
|---|---|---|
| Lực mở cửa tại tay nắm | ≤ 100 N | |
| Chênh áp khi cửa đóng | ≥ 30 Pa | |
| Vận tốc gió qua cửa mở | ≥ 1 m/s | ≥ 2 m/s |
| Thời gian khởi tạo | ≤ 60 s | |
| Thời gian vận hành đầy đủ | ≤ 120 s | |
| Thời gian đáp ứng khi đóng/mở cửa | ≤ 5 s | |
Chênh áp ≥ 30 Pa đo giữa không gian được bảo vệ và không gian không được bảo vệ ở tầng cháy, khi: mọi cửa của buồng thang (kể cả cửa ra ngoài cuối cùng) đóng; mọi cửa giếng thang máy tăng áp đóng trừ một cửa (thường là cửa ở tầng thoát nạn); và đường xả gió từ tầng cháy ra ngoài đang mở. Khi cửa giữa hai không gian mở, tiêu chí chênh áp được thay bằng tiêu chí vận tốc.
Vận tốc đo khi một cửa mở hoàn toàn; nếu các cửa khác kích thước thì lấy cửa lớn nhất, cửa hai cánh thì lấy cánh lớn. Lý do tiêu chuẩn nêu: lúc thoát nạn người chen trong khung cửa, nên tính một cửa thông thoáng là đủ. Cửa ra ngoài cuối cùng có thể thiết kế ở trạng thái đóng nếu chứng minh được với cơ quan có thẩm quyền rằng lính cứu hỏa không phải chèn mở nó khi chữa cháy.
Khi nào dùng Cấp 1, khi nào phải dùng Cấp 2?
Cấp 1 (1 m/s) được dùng khi rơi vào một trong các trường hợp:
- Nhà có hệ thống chữa cháy tự động bằng sprinkler phản ứng nhanh theo EN 12259-1 (chỉ số RTI ≤ 50, nhiệt độ tác động ≤ 72 °C);
- Nhà ở cao tới 30 m, hoặc dưới ngưỡng nhà cao tầng theo quy định quốc gia;
- Nhà ở có ít nhất hai phòng không có tải cháy giữa không gian được bảo vệ và nguồn cháy tiềm tàng, kèm cửa tự đóng;
- Cơ quan có thẩm quyền chấp nhận.
Các trường hợp còn lại, hoặc khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, dùng Cấp 2 (2 m/s). Phụ lục quốc gia của Anh khuyến nghị lấy ngưỡng nhà cao tầng là 18 m khi quy định không nêu rõ. Ở Việt Nam chưa có văn bản nào chỉ định cách chọn cấp theo tiêu chuẩn này, nên hồ sơ luận chứng cần nêu rõ lý do chọn cấp.
Mốc thời gian 60 giây, 120 giây và 5 giây
Điều 5.3 định nghĩa ba khoảng thời gian, tính từ lúc hệ thống nhận tín hiệu báo cháy (t0):

- Thời gian khởi tạo (60 s): mọi bộ phận (van, cửa xả) phải về đúng vị trí và quạt đã khởi động.
- Thời gian vận hành (120 s): hệ thống đạt trạng thái hoạt động đầy đủ.
- Thời gian đáp ứng (5 s): khi một cửa mở ra hoặc đóng lại, hệ thống phải đạt lại tiêu chí vận tốc hoặc chênh áp (kể cả giới hạn lực mở cửa) trong 5 giây. Tiêu chuẩn giải thích mức 5 s là dung sai cho điều kiện hiện trường so với phép thử bộ thiết bị theo EN 12101-6 (bản 2022 yêu cầu bộ thiết bị đạt trong 3 s).
Sáu cấp A–F của bản 2005 đi đâu?
Bản BS EN 12101-6:2005 chia hệ thống thành sáu cấp A–F theo kịch bản thoát nạn, mỗi cấp quy định cửa nào được coi là mở và có mức 10 Pa trong một số kịch bản. Chú thích ở phần giới thiệu EN 12101-13 ghi rõ: tiêu chuẩn nay chỉ mô tả hai hệ thống bằng chênh áp khi cửa đóng và vận tốc khi cửa mở, mức 10 Pa bị bỏ.
Phụ lục quốc gia NA (tham khảo) của bản BSI nói thêm: tiêu chuẩn mới không quy định không gian nào phải bảo vệ, cũng không quy định cửa nào coi là mở. Để người thiết kế ở Anh giữ được ý đồ cũ, phụ lục gợi ý tập hợp cửa mở khi tính vận tốc theo mục đích sử dụng:
| Mục đích (tương ứng cấp cũ) | Cửa coi là mở khi tính vận tốc (gợi ý của Anh) |
|---|---|
| Thoát nạn, ở lại tại chỗ (A) | Cửa thang tầng cháy · cửa sảnh tầng cháy (nếu có) · cửa ra ngoài cuối cùng |
| Thoát nạn và chữa cháy (B) | Cửa thang tầng cháy · cửa thang tầng dưới · cửa sảnh tầng cháy · cửa thang máy tầng dưới · cửa ra ngoài cuối cùng |
| Sơ tán đồng thời (C) | Cửa thang tầng cháy · cửa sảnh tầng cháy (nếu có) · cửa ra ngoài cuối cùng |
| Có người ngủ (D) | Như trên, thêm cửa thang và cửa sảnh ở một tầng khác tầng cháy |
| Sơ tán theo giai đoạn (E) | Cửa thang tầng cháy · cửa sảnh tầng cháy (nếu có) · cửa thang ở hai tầng khác · cửa ra ngoài cuối cùng |
Với trục chữa cháy, phụ lục Anh khuyến nghị bảo vệ trọn cả buồng thang, sảnh và giếng thang máy chữa cháy. Đây là gợi ý cho nước Anh, không phải yêu cầu chung của tiêu chuẩn; hồ sơ ở Việt Nam có thể tham khảo nhưng phải nêu rõ là chọn theo phụ lục quốc gia Anh. Phần tóm tắt cấp A–F gốc xem ở bài BS EN 12101-6:2022 và tóm tắt bản 2005.
Lực mở cửa 100 N và chuyện cửa đóng sập
Lực mở cửa tại tay nắm không vượt quá 100 N ở mọi tầng, kể cả tầng cháy, cho mọi cửa trên đường thoát nạn, dù hệ thống đang chạy hay không. Tiêu chuẩn không đặt trị số chênh áp tối đa: chênh áp tối thiểu là 30 Pa, còn mức trên bị khống chế gián tiếp qua lực mở cửa, phụ thuộc kích thước cửa và lực của tay co.
Ba yêu cầu đi kèm dễ bị bỏ sót khi thi công:
- Mọi cửa giữa không gian tăng áp và không tăng áp, kể cả cửa ra ngoài cuối cùng, phải có cơ cấu tự đóng, nên dùng tay co có hãm để cửa không đóng sập gây tai nạn.
- Cửa mở ngược chiều áp phải vừa không vượt 100 N khi mở, vừa không đóng quá mạnh dưới tác dụng của áp.
- Cửa được áp đẩy theo chiều mở (thường là cửa ra ngoài cuối cùng) phải giữ được ở trạng thái đóng khi hệ thống không chạy mà không làm lực mở vượt mức. Tiêu chuẩn gợi ý loại tay co hai chế độ: bình thường là tay co thường, khi hệ thống chạy thì tăng lực đóng.
Phụ lục Anh lưu ý 100 N có thể vẫn quá sức với một số người sử dụng, người thiết kế nên cân nhắc cách bảo đảm mọi người đều mở được cửa thoát nạn (dẫn BS 8300-2). Khi có cả hệ thống hút khói, áp suất âm của hút khói cộng với chênh áp tăng áp có thể đẩy lực mở cửa lên; tổ hợp này vẫn không được vượt 100 N (Điều 6.2.4).
Lấy gió, cấp gió và xả gió
Cửa lấy gió ngoài trời (5.6.6.2) phải lấy trực tiếp từ bên ngoài, không bị khói của chính toà nhà làm nhiễm. Mặc định đặt ở cao độ mặt đất để tránh khói bốc lên, xa nguồn nguy cơ như khu rác hay cửa xả khói tầng hầm. Tiêu chuẩn khuyến nghị cửa lấy gió nằm thấp hơn ít nhất 1 m và cách theo phương ngang ít nhất 5 m so với các lỗ mở của nhà (cửa gió thải, cửa sổ, cửa đi), trừ khi quy định quốc gia khác.
Nếu buộc phải đặt trên mái hay mặt đứng, phải có ít nhất hai cửa lấy gió quay hai hướng khác nhau, cách xa nhau nhất có thể, mỗi cửa đủ toàn bộ lưu lượng. Mỗi cửa có van điều khiển riêng, đóng lại khi đầu báo khói trong ống phát hiện khói. Mọi van đều đóng thì quạt dừng, và tự chạy lại khi một đầu báo phục hồi.
Cấp gió vào buồng thang phải phân bố đều theo chiều cao bằng trục đứng, và vận tốc ra tại miệng cấp không quá 5 m/s. Chú thích của tiêu chuẩn cho biết tối thiểu mỗi ba tầng một điểm cấp thường đạt yêu cầu; tiêu chuẩn cũng khuyến nghị không đặt miệng cấp sát cửa. Cấp gió vào giếng thang máy không được làm ảnh hưởng vận hành thang: giới hạn vận tốc vào giếng tối đa 3 m/s, hoặc đặt miệng cấp ở đỉnh giếng, hoặc ở vị trí thấp nhất nhưng trên mực nước hố thang.
Xả gió ở tầng cháy (5.6.7) là phần hay bị coi nhẹ. Gió đã đi qua cửa vào tầng cháy phải có đường thoát ra ngoài; nếu không, áp ở tầng cháy dâng lên và hệ thống mất tác dụng. Đường xả có thể thụ động (cửa sổ, cửa xả trên mặt đứng, trục xả) hoặc chủ động (quạt hút khói). Một số điểm cần nhớ:
- Không được giả định kính vỡ hay khe hở của toà nhà sẽ làm đường xả.
- Cửa xả trên mặt đứng ở tầng cháy mở hoàn toàn, các tầng khác đóng, điều khiển tự động. Để ít phụ thuộc hướng gió, có thể bố trí ở ít nhất hai mặt nhà, tốt nhất là hai mặt đối diện; khi đó mỗi mặt phải đủ tổng diện tích xả yêu cầu, trừ khi chứng minh được gió không làm giảm khả năng xả.
- Tổn thất áp trên đường xả thụ động không được lớn hơn áp dư thiết kế của không gian được bảo vệ.
- Xả chủ động hút trực tiếp từ khoang cháy có thể gặp khí nóng trên 600 °C, thiết bị phải chọn tương ứng.
Điều khiển áp (5.6.8) bằng thiết bị xả áp ra ngoài hoặc điều chỉnh lưu lượng (biến tần quạt, van điều chỉnh, đường bypass); phần này thường do bộ thiết bị chứng nhận theo EN 12101-6:2022 đảm nhận. Nếu có yêu cầu thổi rửa buồng thang (flushing) theo quy định quốc gia, lưu lượng tối thiểu là theo quy định đó hoặc 7.500 m³/h.
Cách tính lưu lượng gió (rò lọt qua cửa đóng, lưu lượng cửa mở, diện tích xả) nằm ở Phụ lục A và B của tiêu chuẩn; phần công thức áp dụng thực tế xem bài quạt tăng áp cầu thang: nguyên lý và công thức tính.
Liên động với báo cháy, hút khói và tủ điều khiển tay
Khi hệ thống tăng áp phải bật hoặc tắt các hệ thống khác, các chức năng đó phải nằm trong ma trận nhân quả (cause and effect) của toà nhà. Điều 6 nêu các hệ thống cần xét: báo cháy và âm thanh thông báo (tiếng quạt không được át tiếng báo động), điều hoà thông gió (dừng hoặc không được phá chiến lược chênh áp), thang máy chữa cháy, hút khói, phòng được tạo áp vì lý do khác (phòng sạch, phòng máy chủ), sprinkler và hệ phun sương, cửa sổ và rèm che nắng tự động.
Một điểm vận hành quan trọng: nếu khói được phát hiện trong buồng thang, hệ thống tăng áp không chạy; khi đó cần một chức năng thông gió hút khói riêng cho buồng thang (tự động hoặc do lính cứu hỏa bật), và tăng áp chỉ chạy lại khi chức năng đó tắt.
Hệ thống thường điều khiển tự động. Khi quy định quốc gia hoặc cơ quan có thẩm quyền yêu cầu thêm tủ điều khiển tay cho lính cứu hỏa (7.4.2), tủ đặt ở lối tiếp cận chính của lính cứu hỏa hoặc gần lối vào nhà (vị trí nên thống nhất với cơ quan có thẩm quyền), chỉ người có thẩm quyền thao tác được (khoá, mã, sau kính vỡ). Công tắc có ba vị trí loại trừ nhau:
- OFF – dừng quạt, đèn lỗi vàng sáng;
- AUTO – trạng thái sẵn sàng, chờ tín hiệu báo cháy;
- ON – chạy quạt để thổi rửa không gian được bảo vệ, xả áp buồng thang hoạt động, lực mở cửa vẫn trong giới hạn.
Khi quy định quốc gia không nêu khác, tủ phải có đèn báo: sẵn sàng (xanh lá), đã kích hoạt (đỏ), lỗi (vàng nhấp nháy), quạt đang chạy (trắng). Nút kích hoạt tay cho người thoát nạn (sau kính vỡ, gần lối vào) có mức ưu tiên thấp nhất, bị tín hiệu đầu báo khói và tủ của lính cứu hỏa ghi đè. Ngược lại, chế độ thử và bảo trì (7.4.4) có ưu tiên cao nhất, tắt cả chế độ tự động; khi dùng chế độ này phải có người theo dõi tín hiệu khói để dừng thử hoặc sơ tán nếu có cháy.
Nguồn điện (7.5.25) theo EN 12101-10; nguồn chính và nguồn dự phòng tách riêng tới bộ chuyển nguồn tự động, được bảo vệ chống cháy ít nhất bằng giới hạn chịu lửa của kết cấu bao che không gian được bảo vệ, và vẫn có điện khi các nguồn khác trong nhà bị cắt.
Nghiệm thu: đo gì, đo ở bao nhiêu tầng?
Điều 8 yêu cầu cả thử chức năng và thử tính năng. Tiêu chuẩn không bắt buộc thử khói nóng hay khói lạnh, trừ khi quy định quốc gia yêu cầu.
Điều kiện trước khi đo:
- Hệ thống đã lắp xong và chạy thử; có hồ sơ hoàn công.
- Buồng thang, sảnh, thang máy chữa cháy hoàn thiện, kể cả những thứ ảnh hưởng rò lọt như thảm sàn.
- Đường xả, nguồn dự phòng, hệ thống báo cháy đã thử và được chấp thuận.
- Lực mở cửa khi hệ thống không chạy đã đo và ghi lại.
Trước mỗi đợt đo phải ghi điều kiện thời tiết: nhiệt độ ngoài trời, gió, ba điểm nhiệt độ trong mỗi buồng thang, nhiệt độ giếng thang máy chữa cháy. Thiết bị đo sai số trong 5 %, dải 0–150 Pa, 0–5 m/s, lực tới 150 N; áp kế cho phép đo động ghi số liệu ít nhất mỗi 0,2 giây.
Năm loại phép thử (8.3): thử hoàn thành sau chạy thử do nhà thầu lắp đặt làm (kết quả là giá trị tham chiếu cho mọi lần thử sau); thử nghiệm thu của cơ quan có thẩm quyền (nếu quy định quốc gia yêu cầu); thử định kỳ của đơn vị vận hành, khi không có quy định quốc gia thì ít nhất 6 tháng một lần; thử định kỳ toàn hệ thống do người có chuyên môn làm, ít nhất mỗi năm một lần; và kiểm tra lặp lại của cơ quan có thẩm quyền.
Số tầng tối thiểu cho lần thử hoàn thành (Bảng 2):
| Phép đo | Thử hoàn thành sau chạy thử |
|---|---|
| Chênh áp, vận tốc gió | Tối thiểu 2 tầng, giữa hai tầng đo cách nhau tối đa 3 tầng; cộng mọi tầng có mặt bằng riêng (đường xả, cửa khác) |
| Lực mở cửa | Tất cả các tầng |
| Thời gian đáp ứng động | Tối thiểu 3 tầng: khoảng trên cùng, giữa và dưới cùng |
| Thời gian khởi tạo, vận hành | Tối thiểu 1 tầng |
Ngoài bảng, Điều 8.4 yêu cầu với nhà hoặc không gian được bảo vệ cao không quá 60 m, chênh áp và vận tốc phải đo ít nhất ở tầng điển hình cao nhất và thấp nhất. Lần thử định kỳ hằng năm của người có chuyên môn dùng gần như cùng bảng, riêng đáp ứng động chỉ cần tối thiểu 2 tầng.
Cách đo chính (8.5):
- Chênh áp: lấy giá trị trung bình trong ít nhất 60 giây, giữa không gian được bảo vệ và không gian có đường xả đang mở.
- Vận tốc: ít nhất 8 điểm phân bố đều trên mặt phẳng cửa, cửa lớn thì 5 điểm/m²; mọi điểm phải dương theo đúng chiều gió thiết kế; đo hai lần, lệch quá 10 % thì đo lần ba, vẫn lệch thì phải tìm nguyên nhân trước khi đo lại.
- Lực mở cửa: móc lực kế vào tay nắm (hoặc ngay trên, dưới tay nắm hay thanh thoát hiểm, cách mép cửa khoảng 0,1 m), kéo đều và chậm, ghi lực lớn nhất.
- Đáp ứng động: để áp ổn định ít nhất 60 s, ghi 30 s với cửa đóng, mở hẳn cửa trong 1–2 s, giữ mở 10 s, thả cho cửa tự đóng, ghi tiếp 60 s. Khoảng thời gian chênh áp vượt mức tương ứng lực mở 100 N phải dưới 5 s, và áp trung bình 30 s cuối phải nằm trong ±5 % áp trung bình 30 s đầu.
- Kích hoạt: thử mọi nhánh của ma trận nhân quả, gồm tín hiệu báo cháy, đầu báo khói riêng, tủ điều khiển của lính cứu hỏa, nút cho người thoát nạn.
Hồ sơ bàn giao (Điều 10) gồm mô tả kỹ thuật hệ thống, bản vẽ, ma trận điều khiển, danh mục thiết bị kèm tài liệu kỹ thuật, và chứng nhận hoàn thành. Tiêu chuẩn có phụ lục mẫu báo cáo ý tưởng thiết kế và mẫu biên bản thử.
Kiểm tra hệ thống tăng áp hằng ngày, hằng tháng, hằng năm
Khi không có quy định quốc gia hay khuyến cáo của nhà cung cấp, Điều 11.5 đặt lịch tối thiểu như sau:
| Chu kỳ | Việc phải làm và ghi sổ |
|---|---|
| Hằng ngày | Kiểm tra lỗi trên tủ, ghi có/không có lỗi; xác nhận lỗi hôm trước đã khắc phục |
| Hằng tháng | Như hằng ngày; cho hệ thống chạy ít nhất 10 phút và ghi tính năng; kiểm tra quạt và ít nhất 10 % số van khói, cửa xả, cửa đi, đường xả (mỗi tháng một nhóm 10 % khác, đủ mọi bộ phận trong năm); kiểm tra nguồn dự phòng (ắc quy, máy phát, nhiên liệu, UPS) |
| Hằng năm (người có chuyên môn) | Rà sổ lỗi và hồ sơ thử trước; chạy toàn hệ thống, thử từng tín hiệu báo cháy đầu vào theo ma trận nhân quả; thử tính năng theo Điều 8; nếu có nguồn dự phòng: cắt nguồn chính, chạy bằng nguồn dự phòng ít nhất 60 phút rồi giả lập báo cháy; kiểm tra mặt bằng có thay đổi không (có thay đổi thì báo phải thiết kế lại); lập báo cáo đầy đủ |
Hệ thống có chức năng tự kiểm tra và báo lỗi từ xa được khuyến khích, nhưng không thay được lần thử thực tế hằng năm. Tiêu chuẩn nhấn mạnh lỗi là vấn đề an toàn sinh mạng, không phải việc bảo trì để dồn lại sau. Linh kiện hỏng chỉ thay bằng linh kiện mới chính hãng; thay cả bộ phận khác loại phải theo ý kiến của nhà cung cấp hệ thống. Ống và trục gió phải được vệ sinh theo tiêu chuẩn riêng hoặc quy định quốc gia.
Điều 11.1–11.4 đặt thêm mấy trách nhiệm cho chủ nhà và ban quản lý:
- Mỗi toà nhà có một người phụ trách được chỉ định cho hệ thống tăng áp. Khi hệ thống không hoạt động phải có giải pháp thay thế (lực lượng chữa cháy túc trực, nhân viên an toàn thường trực, hoặc người trong nhà phải ra ngoài) cho tới khi hệ thống chạy lại.
- Hệ thống ngừng ngoài dự kiến có khả năng quá 24 giờ phải báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền, kèm thời gian dự kiến và biện pháp bù tương đương.
- Trước khi cải tạo mặt bằng (không gian được bảo vệ, đường xả), phải có đánh giá bằng văn bản của nhà cung cấp hệ thống hoặc đơn vị thiết kế rằng hệ thống vẫn đạt; đánh giá không đạt thì phải điều chỉnh hoặc thiết kế lại.
- Hồ sơ lưu tập trung một chỗ: người phụ trách, ma trận điều khiển, danh mục thiết bị, bản vẽ, sổ lỗi, sổ thử và bảo trì, năng lực người kiểm tra và nhà thầu.
EN 12101-13 đặt cạnh trị số tăng áp của QCVN 06
Ở Việt Nam, yêu cầu bắt buộc về cấp không khí chống khói nằm ở Phụ lục D QCVN 06:2022/BXD. Điều D.1.7 (Sửa đổi 1:2023) cho phép thay đổi yêu cầu của Phụ lục D “trên cơ sở có thiết kế bảo vệ chống khói phù hợp với tiêu chuẩn được phép áp dụng và thỏa mãn yêu cầu tại D.1.1”. Đặt hai văn bản cạnh nhau:
| Nội dung | BS EN 12101-13:2022 | QCVN 06:2022/BXD (bắt buộc) |
|---|---|---|
| Áp suất dư trong không gian được bảo vệ | ≥ 30 Pa khi cửa đóng; mức trên khống chế qua lực mở cửa 100 N | 20–50 Pa, lưu lượng tính theo các kịch bản cửa ở D.11; phạm vi áp dụng ở D.12 a |
| Vận tốc qua cửa mở | ≥ 1 m/s (Cấp 1) hoặc ≥ 2 m/s (Cấp 2), tính một cửa mở ở tầng cháy | ≥ 1,3 m/s qua cửa khoang đệm trên lối vào buồng thang N2, N3 và các vị trí D.11 liệt kê |
| Kịch bản tính lưu lượng buồng thang | Một cửa mở ở tầng cháy; cửa ra ngoài theo ý đồ thiết kế | Buồng thang N2: lấy lưu lượng lớn hơn giữa (i) cửa tầng cháy mở và (ii) cửa ra ngoài trời mở, các cửa khác đóng (D.11 b) |
| Áp trên cửa thoát nạn | Lực mở ≤ 100 N, kể cả khi có hút khói | Áp dư trên cửa đóng của lối ra thoát nạn ≤ 50 Pa khi hút khói và cấp khí chạy đồng thời (D.12 d) |
| Cửa lấy gió | Ưu tiên mặt đất; khuyến nghị thấp hơn lỗ mở của nhà ≥ 1 m và cách ngang ≥ 5 m; đặt trên mái hay mặt đứng thì ≥ 2 cửa | Cách cửa xả khói của hệ thống hút xả khói ≥ 5 m (D.13 c) |
Ba hệ quả thực hành:
- Trị số bắt buộc vẫn là của QCVN 06. Mức ≥ 30 Pa của EN nằm trong khoảng 20–50 Pa nên dễ dung hoà; còn 1 m/s (Cấp 1) thấp hơn mức 1,3 m/s QCVN 06 yêu cầu cho khoang đệm, nên không lấy Cấp 1 thay cho khoang đệm khi chưa có luận chứng theo D.1.7.
- Phần nghiệm thu và bảo trì của EN 12101-13 là chỗ QCVN 06 không đi sâu (số tầng đo, cách đo vận tốc, phép thử đáp ứng 5 s, lịch kiểm tra tháng/năm). Có thể đưa vào chỉ dẫn kỹ thuật và quy trình bảo trì để làm rõ cách kiểm chứng.
- Viện dẫn tiêu chuẩn châu Âu thì dẫn EN 12101-13:2022 cho thiết kế và EN 12101-6:2022 cho bộ thiết bị, không dẫn bản 12101-6:2005 đã rút. Lời nói đầu của BSI cũng lưu ý không lấy riêng một trị số ra ngoài phạm vi ứng dụng của tiêu chuẩn để biện minh cho thiết kế.
Công trình đang sử dụng không lắp được hệ thống tăng áp: xem giải pháp thay thế ở Phụ lục E Quyết định 1074/QĐ-BXD. Vai trò của từng bộ tiêu chuẩn trong hồ sơ luận chứng có ở bài so sánh NFPA 92 – BS EN 12101 – QCVN 06.
✅ Cần rà phương án tăng áp hoặc quy trình nghiệm thu trước khi trình thẩm định?
PCCC.vn tư vấn giải pháp chống khói trong hồ sơ thiết kế PCCC: chọn kịch bản tạo áp, đối chiếu QCVN 06:2022/BXD với tiêu chuẩn viện dẫn. Gọi hotline 0876 666 114.
Câu hỏi thường gặp
1️⃣ BS EN 12101-13:2022 khác BS EN 12101-6:2022 thế nào?
EN 12101-13:2022 quy định thiết kế, lắp đặt, nghiệm thu, kiểm tra định kỳ và bảo trì hệ thống tăng áp trong công trình. EN 12101-6:2022 quy định đặc tính và phương pháp thử bộ thiết bị tăng áp (quạt, van xả áp, cảm biến, tủ điều khiển). Hai phần cùng thay thế BS EN 12101-6:2005.
2️⃣ Chênh áp tăng áp buồng thang theo EN 12101-13 là bao nhiêu?
Tối thiểu 30 Pa khi các cửa đóng và đường xả gió ở tầng cháy mở, cho cả Cấp 1 và Cấp 2. Không có trị số tối đa cố định; giới hạn trên là lực mở cửa tại tay nắm không vượt quá 100 N. QCVN 06:2022/BXD yêu cầu 20–50 Pa.
3️⃣ Khi nào chọn Cấp 1, khi nào Cấp 2?
Cấp 1 (gió qua cửa mở ≥ 1 m/s) dùng cho nhà có sprinkler phản ứng nhanh, nhà ở cao tới 30 m hoặc dưới ngưỡng nhà cao tầng, nhà ở có ít nhất hai phòng không tải cháy giữa nguồn cháy và không gian được bảo vệ kèm cửa tự đóng, hoặc khi cơ quan có thẩm quyền chấp nhận. Các trường hợp còn lại dùng Cấp 2 (≥ 2 m/s).
4️⃣ Nghiệm thu hệ thống tăng áp theo EN 12101-13 phải đo ở bao nhiêu tầng?
Khi thử hoàn thành, chênh áp và vận tốc đo tối thiểu 2 tầng, giữa hai tầng đo cách nhau tối đa 3 tầng, cộng các tầng có mặt bằng riêng; lực mở cửa đo ở tất cả các tầng; thời gian đáp ứng động đo tối thiểu 3 tầng (trên, giữa, dưới); thời gian khởi tạo và vận hành đo tối thiểu 1 tầng.
5️⃣ Hệ thống tăng áp phải kiểm tra định kỳ thế nào?
Khi không có quy định quốc gia, EN 12101-13 yêu cầu kiểm tra lỗi hằng ngày; hằng tháng chạy hệ thống ít nhất 10 phút và kiểm tra quạt cùng ít nhất 10 % van, cửa xả; hằng năm người có chuyên môn thử toàn hệ thống, thử tính năng và, nếu có nguồn dự phòng, chạy bằng nguồn đó ít nhất 60 phút. Đơn vị vận hành thử tính năng ít nhất 6 tháng một lần.
Văn bản và bài viết liên quan
- BS EN 12101-6:2022 – tiêu chuẩn bộ thiết bị tăng áp (kèm tóm tắt bản 2005)
- Kiểm soát khói công trình: 3 phương pháp theo QCVN 06
- Mẫu thuyết minh thiết kế hệ thống tăng áp – hút khói
- Cấp khí bù hệ thống hút khói
Nguồn: BS EN 12101-13:2022 (BSI, 30/09/2022) – lời nói đầu, Điều 1, 4, 5 (Bảng 1), 6, 7.4, 7.5.25, 8 (Bảng 2), 11 và Phụ lục quốc gia NA; QCVN 06:2022/BXD Phụ lục D (D.11, D.12, D.13) và Sửa đổi 1:2023 (D.1.7).







