Hướng dẫn nghiệp vụ công tác quản lý nhà nước về PCCC
⚠️ CẬP NHẬT QUY ĐỊNH
Công văn 905/C07-P4 dưới đây ban hành ngày 08/4/2025, căn cứ Nghị định 136/2020/NĐ-CP và Nghị định 50/2024/NĐ-CP — hai nghị định này đã hết hiệu lực từ 01/7/2025, nay được thay thế bằng Nghị định 105/2025/NĐ-CP. Riêng yêu cầu kỹ thuật về thang máy chữa cháy dẫn theo QCVN 06:2022/BXD (kèm Sửa đổi 1:2023) vẫn còn hiệu lực. Nội dung dưới đây giữ nguyên để tra cứu. Xem văn bản thay thế: Nghị định 105/2025/NĐ-CP.
BỘ CÔNG AN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
CỤC CẢNH SÁT PCCC VÀ CNCH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———————– ————————————–
Số: 905/C07-P4 Hà Nội, ngày 8 tháng 4 năm 2025
V/v hướng dẫn nghiệp vụ công tác
quản lý nhà nước về PCCC
Kính gửi: Công an thành phố Huế
Phúc đáp Công văn số 2740/PC07-Đ2 của PC07 Công an thành phố Huế về việc đề nghị hướng dẫn yêu cầu trang bị thang máy chữa cháy. Căn cứ Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24/11/2020 và Nghị định số 50/2024/NĐ-CP ngày 10/5/2024 của Chính phủ, các tiêu chuẩn, quy chuẩn về PCCC hiện hành, C07 có ý kiến như sau:
1. Về yêu cầu trang bị thang máy chữa cháy: Theo quy định tại Điều 6.13 QCVN 06:2022/BXD và Sửa đổi 1:2023/BXD, các công trình có chiều cao PCCC lớn hơn 28 m (lớn hơn 50 m đối với nhà nhóm F1.3), hoặc chiều sâu của sàn tầng hầm dưới cùng (tính đến cao độ của lối ra thoát nạn ra ngoài) lớn hơn 9 m thì phải trang bị thang máy chữa cháy. Khi đó:
– Các công trình xây dựng mới thuộc phạm vi áp dụng của QCVN 06:2022/BXD và Sửa đổi 1:2023/BXD, có quy mô thuộc diện phải trang bị thang máy chữa cháy, đề nghị Công an thành phố Huế hướng dẫn Chủ đầu tư thiết kế, trang bị bảo đảm đúng quy định.
– Các công trình hiện hữu đã được cấp Giấy chứng nhận thẩm duyệt thiết kế về PCCC (thời điểm trước khi QCVN 06:2010/BXD có hiệu lực, chưa có quy định yêu cầu trang bị thang máy chữa cháy), đến nay, Chủ đầu tư đề nghị thẩm duyệt cải tạo, điều chỉnh thiết kế về PCCC mà nội dung điều chỉnh không làm tăng quy mô, thay đổi tính chất sử dụng của công trình, không thuộc phạm vi áp dụng của QCVN 06:2022/BXD và Sửa đổi 1:2023/BXD thì không yêu cầu trang bị bổ sung thang máy chữa cháy.
– Các công trình hiện hữu khi Chủ đầu tư cải tạo, thay đổi tính chất sử dụng, làm tăng quy mô của công trình dẫn đến công trình thuộc diện phải trang bị thang máy chữa cháy, đề nghị Công an thành phố Huế hướng dẫn Chủ đầu tư trang bị bổ sung thang máy chữa cháy bảo đảm các yêu cầu quy định tại Điều 6.13 QCVN 06:2022/BXD và Sửa đổi 1:2023/BXD và TCVN 6396-72:2010. Trường hợp không thể thực hiện đầy đủ các yêu cầu thiết kế thang máy chữa cháy quy định tại QCVN 06:2022/BXD và Sửa đổi 1:2023/BXD, Công an thành phố Huế có thể xem xét bổ sung, thay thế một số yêu cầu của quy chuẩn này đối với công trình bằng các yêu cầu an toàn cháy phù hợp khác theo tài liệu chuẩn hoặc có luận chứng kỹ thuật phù hợp theo quy định tại Điều 1.1.10 QCVN 06:2022/BXD
Sửa đổi 1:2023/BXD hoặc giữ nguyên hiện trạng công trình, không thay đổi so với thiết kế đã được thẩm duyệt, nghiệm thu về PCCC.
2. Kích thước cabin thang máy chữa cháy được quy định tại Điều 5.2.3 TCVN 6396-72:2010, cụ thể: kích thước thang máy chữa cháy phải được ưu tiên lựa chọn từ TCVN 7628-1 (ISO 4190-1). Trong bất kỳ trường hợp nào, kích thước chiều rộng không được nhỏ hơn 1100 mm, kích thước chiều sâu không được nhỏ hơn 1400 mm và tải trọng định mức không được nhỏ hơn 630 kg như đã quy định tại TCVN 7628-1 (ISO 4190-1), chiều rộng nhỏ nhất của lối vào cabin phải tối thiếu là 800 mm.
Đối với một số loại hình công trình có công năng đặc biệt như bệnh viện, nhà dưỡng lão,… khi thang máy được sử dụng có tính đến việc sơ tán người khỏi đám cháy và có sử dụng băng ca hoặc giường được thiết kế như một thang máy chữa cháy có hai lối vào thì tải trọng định danh nhỏ nhất phải tối thiểu là 1000 kg, kích thước chiều rộng của cabin phải tối thiểu là 1100 mm và chiều sâu của cabin tối thiểu phải là 2100 mm theo quy định tại Bảng 3 TCVN 7628-1 (ISO 4190-1).
C07 có ý kiến trả lời Công an thành phố Huế biết và thực hiện theo quy định./.
Nơi nhận: KT.CỤC TRƯỞNG
– Như trên; PHÓ CỤC TRƯỞNG
– Đồng chí Cục trưởng (để báo cáo); Đại tá Bùi Quang Việt (Đã kí)
– Lưu: VT, P4 (TdN)







