Chuyên đề 5. CÔNG TÁC ĐIỀU TRA, XÁC MINH GIẢI QUYẾT VỤ CHÁY
Chuyên đề 5. CÔNG TÁC ĐIỀU TRA, XÁC MINH GIẢI QUYẾT VỤ CHÁY
I. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC ĐIỀU TRA, GIẢI QUYẾT VỤ CHÁY CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT PCCC VÀ CNCH
1. Các văn bản quy phạm pháp luật
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
- Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017); Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật hình sự 2015;
- Luật PCCC và CNCH năm 2024;
- Luật Giám định tư pháp năm 2012;
- Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015;
- Pháp lệnh Chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng ngày 28/03/2012;
- Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp;
- Nghị định số 26/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 02/3/2015 về Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự;
- Thông tư số 55/2006/TT-BTC ngày 22/6/2006 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02/3/2005 của Chính phủ về hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự;
- Thông tư số 49/2017/TT-BCA ngày 26/10/2017 quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi;
- Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT- VKSNDTC ngày 29/12/2017 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2018 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-BCA- BQP-BTC-BNN&PTNT- VKSNDTC ngày 29/11/2021, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14/1/2022)
- Quyết định số 169/QĐ-VKSTC ngày 02/5/2018 của Viện KSND tối cao ban hành Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Quyết định số 170/QĐ-VKSTC ngày 02/5/2018 của Viện KSND tối cao ban hành Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và Giám định;
- Thông tư liên tịch số 02/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA- BQP- BTC- BNN&PTNT ngày 05/9/2018 quy định việc phối hợp thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo;
- Thông tư số 07/VBHN-BCA ngày 19/11/2018 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về phân công thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra, thẩm quyền điều tra hình sự trong công an nhân dân và các đội điều tra thuộc cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp huyện;
- Thông tư số 28/2020/TT-BCA ngày 26 tháng 3 năm 2020 của Bộ Công an quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng Công an nhân dân (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 129/2021/TT-BCA ngày 31/12/2021, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 14/2/2022).
- Thông tư số 140/2020/TT-BCA ngày 23/12/2020 của Bộ Công an quy định về triển khai các hoạt động chữa cháy và CNCH của lực lượng Công an nhân dân.
- Thông tư số 119/2021/TT-BCA ngày 08 tháng 12 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự;
- Thông tư số 36/2022/TT-BCA ngày 96/10/2022 của Bộ Công an quy định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và cấp, thu hồi Giấy chứng nhận Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra trong Công an nhân dân.
- Hướng dẫn số 02/HDLN-BCA-VKSNDTC ngày 31/01/2024 của Bộ Công an – Viện kiểm sát Nhân dân tối cao về việc Phối hợp thực hiện thủ tục trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân.
- Nghị quyết số 02/2024/NQ-HĐTP ngày 24/4/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 313 của Bộ luật hình sự.
- Thông tư số 88/2024/TT-BCA ngày 21/11/2024 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về phân công trách nhiệm, quan hệ, quy trình xác minh, giải quyết vụ cháy, giải quyết vụ cháy trong Công an nhân dân.(thay thế Thông tư số 55/2020/TT-BCA ngày 03/6/2020 và Thông tư số 11/2023/TT-BCA ngày 01/3/2023).
- Thông tư số 98/2024/TT- BCA ngày 16/12/2024 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về quy trình khám nghiệm hiện trường trong tố tụng hình sự của lực lượng CAND.
- Thông tư số 11/2025/TT- BCA ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Bộ Công an quy định về tổ chức, bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra; phân công Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; thẩm quyền điều tra hình sự trong CAND.
- Công văn số 542/BCA- C07 ngày 20/02/2025 của Bộ Công an về việc hướng dẫn phân công, phân cấp thực hiện công tác PCCC và CNCH.
- Công văn số 611/C07- P1 ngày 13/03/2025 của Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ về việc thực hiện hướng dẫn của Bộ Công an về mô hình tổ chức mới.
- Công văn số 2582/BCA- V01 ngày 13/6/2025 của Bộ Công an hướng dẫn tạm thời thực hiện công tác xác minh, giải quyết vụ cháy.
2. Thẩm quyền điều tra, xác minh, giải quyết vụ cháy của Cơ quan Cảnh sát PCCC và CNCH
- Căn cứ khoản 6 Điều 9 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự: “6. Các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra gồm có Cục Quản lý xuất nhập cảnh; các cục nghiệp vụ an ninh ở Bộ Công an; Phòng Quản lý xuất nhập cảnh; các phòng nghiệp vụ an ninh thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Công an cấp tỉnh) và Đội An ninh ở Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Công an cấp huyện); Cục Cảnh sát giao thông; Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường; Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao; Phòng Cảnh sát giao thông; Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường; Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao; Cảnh sát PCCC tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Trại giam.”
Theo đó, Cơ quan Cảnh sát PCCC và CNCH là cơ quan thuộc lực lượng Cảnh sát trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra, bao gồm: Cục Cảnh sát PCCC và CNCH và Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH Công an cấp tỉnh.
Căn cứ Điều 19 Thông tư 11/2025/TT- BCA ngày 27 tháng 02 năm 2025 Quy định nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của các cơ quan của công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra:
Cục Cảnh sát PCCC và CNCH; Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH Công an cấp tỉnh trong khi làm nhiệm vụ mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm quy định tại các điều 305 (Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ), 307 (Tội vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ), 311 (Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc), 312 (Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc) và 313 (Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy) của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Trưởng phòng Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 38 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 đối với các tội phạm này
2.1. Thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của C07 trong điều tra, xác minh, giải quyết vụ cháy
Căn cứ Điều 9 Thông tư số 88/2024/TT-BCA, theo đó Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ:
- Chủ trì xác minh, giải quyết các vụ cháy theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ Công an; phối hợp với Cơ quan điều tra khi có yêu cầu.
- Khi có căn cứ xác định vụ cháy có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra thì thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
- Thực hiện xử phạt vi phạm hành chính đối với vụ cháy do Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thụ lý không có dấu hiệu tội phạm và có dấu hiệu vi phạm hành chính về phòng cháy, chữa cháy.”
2.2. Thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của PC07 trong điều tra, xác minh, giải quyết vụ cháy
Căn cứ Điều 6 Thông tư số 88/2024/TT-BCA, và Công văn số 2582/BCA- V01 ngày 13/6/2025 của Bộ Công an hướng dẫn tạm thời thực hiện công tác xác minh, giải quyết vụ cháy, theo đó Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thuộc Công an cấp tỉnh:
- Chủ trì xác minh, giải quyết vụ cháy không có người chết hoặc bị thương tại cơ sở được phân cấp quản lý về phòng cháy, chữa cháy. Trường hợp vụ cháy có dấu hiệu tội phạm không thuộc thẩm quyền thì chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Thông báo cho PC01 và Công an xã, Đồn Công an nơi xảy ra cháy; đồng thời chỉ đạo Đội nghiệp vụ thực hiện các nhiệm vụ tại hiện trường, chủ trì xác định sơ bộ thiệt hại về người, tài sản và xác định thủ tục, đơn vị chủ trì xác minh, giải quyết vụ cháy theo quy định tại khoản 2 Điều 17, Điều 18 Thông tư số 88/2024/TT- BCA
- Phối hợp với Cơ quan điều tra trong xác minh, giải quyết vụ cháy khi có yêu cầu.
- Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc đề xuất người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với vụ cháy trực tiếp thụ lý.
Tiếp nhận, xử phạt vi phạm hành chính hoặc đề xuất người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với vụ cháy không có dấu hiệu tội phạm nhưng có dấu hiệu vi phạm hành chính về phòng cháy, chữa cháy do Cơ quan điều tra chuyển giao theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 28 Thông tư số 88/2024/TT- BCA để thực hiện xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.”
2.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Cấp trưởng, cấp phó thuộc C07, PC07 trong điều tra, xác minh, giải quyết vụ cháy.
- Căn cứ Điều 38 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự lực lượng cảnh sát PCCC và CNCH được phân công nhiệm vụ, quyền hạn điều tra sau:
+ Trong khi thi hành nhiệm vụ mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền Điều tra của Cơ quan Cảnh sát Điều tra thì Cục trưởng C07, trưởng phòng PC07 ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, lấy lời khai, khám nghiệm hiện trường, khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.
+ Cục trưởng C07, Trưởng phòng PC07 trực tiếp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động Điều tra, quyết định phân công hoặc thay đổi cấp phó trong việc Điều tra vụ án hình sự, kiểm tra các hoạt động Điều tra, quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cấp phó, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Khi Cục trưởng C07, Trưởng phòng PC07 vắng mặt thì một cấp phó được ủy nhiệm thực hiện các quyền hạn của cấp trưởng quy định tại Khoản này và phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về nhiệm vụ được giao.
+ Khi được phân công Điều tra vụ án hình sự, Phó Cục trưởng, Phó Trưởng phòng có quyền áp dụng các biện pháp Điều tra theo quy định.
+ Cục trưởng, Phó Cục trưởng Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi và quyết định của mình.
- Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 40 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, quy định cấp trưởng C07, PC07 có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
+ Cấp trưởng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại điểm e và điểm g khoản 2 Điều 35 của Bộ luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
- Trực tiếp chỉ đạo hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự theo thẩm quyền;
- Quyết định phân công hoặc thay đổi cấp phó, cán bộ điều tra trong việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
- Kiểm tra hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của cấp phó và cán bộ điều tra;
- Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cấp phó, cán bộ điều tra.
Khi cấp trưởng vắng mặt, một cấp phó được ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trưởng và chịu trách nhiệm trước cấp trưởng về nhiệm vụ được ủy quyền.
+ Khi tiến hành tố tụng hình sự, những người được quy định tại điểm e và điểm g khoản 2 Điều 35 của Bộ luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
- Thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật từ những người có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
- Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án;
- Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc khám nghiệm hiện trường;
- Quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án;
- Triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người làm chứng, bị hại, đương sự.”
1.1. Trách nhiệm của cán bộ điều tra thuộc C07 và PC07
Căn cứ tại khoản 3, 4 Điều 40 Bộ luật tố tụng hình sự, cán bộ điều tra thuộc lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH được phân công nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Cán bộ điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:
+ Lập hồ sơ vụ án hình sự;
+ Lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người làm chứng, bị hại, đương sự;
+ Tiến hành khám nghiệm hiện trường; thi hành lệnh khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án;
+ Giao, gửi các lệnh, quyết định và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.
- Trong phạm vi trách nhiệm của mình, cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Cấp trưởng, cấp phó không được ủy quyền cho cán bộ điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.”
3. Trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong công tác điều tra, xác minh, giải quyết vụ cháy
3.1. Trách nhiệm của Công an cấp xã, Đồn Công an
Căn cứ Điều 4 Thông tư số 88, Công an cấp xã, Đồn Công an có trách nhiệm, cụ thể:
- Khi tiếp nhận thông tin vụ cháy, Công an cấp xã, Đồn Công an có trách nhiệm tham gia chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, tổ chức bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản, bảo đảm an ninh, trật tự khu vực xảy ra cháy theo quy định.
- Phát hiện, thu thập, ghi nhận các dấu vết, đồ vật, tài liệu tại hiện trường có nguy cơ bị thay đổi, phá hủy; phối hợp các lực lượng xác định sơ bộ thiệt hại về người, tài sản; xác định và lấy lời khai của người biết việc, người có liên quan, đối tượng nghi vấn gây ra cháy; thu thập thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ cháy, dữ liệu camera giám sát của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gần khu vực cháy (nếu có); báo cáo cụ thể tình hình có liên quan và bàn giao tài liệu, đồ vật đã thu thập cho cơ quan, người có thẩm quyền.
- Phối hợp với Cơ quan điều tra, cơ quan, đơn vị Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ có thẩm quyền trong xác minh, giải quyết vụ cháy khi được yêu cầu.”
3.2. Trách nhiệm của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh
Căn cứ Điều 7 Thông tư số 88/2024/TT- BCA và Công văn số 2582/BCA- V01 ngày 13/6/2025 của Bộ Công an hướng dẫn tạm thời thực hiện công tác xác minh, giải quyết vụ cháy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có nhiệm vụ, cụ thể:
- Chủ trì xác minh, giải quyết ngay từ ban đầu các vụ cháy (trừ trường hợp thuộc thẩm quyền xác minh, giải quyết vụ cháy của PC07, C07, Cơ quan điều tra cấp trên, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân). Đối với vụ cháy đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự nếu có dấu hiệu vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy, thì PC01 chuyển hồ sơ, tài liệu (bản chính), tang vật, phương tiện (nếu có) của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến PC07 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 28 Thông tư số 88/2024/TT- BCA.
- Khi có căn cứ xác định vụ cháy có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra khác thì thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
- Phối hợp xác minh, giải quyết vụ cháy do Cơ quan Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thụ lý khi có yêu cầu.”
3.3. Trách nhiệm của Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh
Căn cứ: Điều 8 Thông tư số 88/2024/TT- BCA quy định:
- Chủ trì xác minh, giải quyết vụ cháy có dấu hiệu tội phạm liên quan đến an ninh quốc gia và các tội phạm khác thuộc thẩm quyền hoặc theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ Công an.
- Khi có căn cứ xác định vụ cháy có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra khác thì thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.”
3.4. Trách nhiệm của lực lượng Kỹ thuật hình sự
Điều 12 Thông tư số 88/2024/TT- BCA quy định:
“Tham gia khám nghiệm hiện trường; tiến hành giám định khi có yêu cầu, trưng cầu của Cơ quan điều tra, Cơ quan Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.”
3.5. Trách nhiệm của Cơ quan Kiểm lâm
Căn cứ Điều 16 Thông tư số 88/2024/TT- BCA quy định:
- Cơ quan Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ và các lực lượng khác trong Công an nhân dân có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan Kiểm lâm xác minh, giải quyết vụ cháy rừng khi có yêu cầu.
- Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân có trách nhiệm chủ trì xác minh, giải quyết vụ cháy rừng có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền; tiếp nhận hồ sơ, đồ vật, tài liệu vụ cháy rừng do Cơ quan Kiểm lâm chuyển giao để xác minh, giải quyết theo thẩm quyền.”
II. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG TRONG CÔNG TÁC XÁC MINH, GIẢI QUYẾT VỤ CHÁY
Công tác xác minh, giải quyết vụ cháy của lực lượng cảnh sát PCCC và CNCH là hoạt động thu thập tài liệu, dấu vết, đồ vật để làm sáng tỏ nguyên nhân xảy ra cháy và trách nhiệm của cá nhân, tổ chức có liên quan trong công tác phòng cháy, chữa cháy từ đó đánh giá có hay không có hành vi vi phạm pháp luật về phòng cháy, chữa cháy là nguyên nhân chính dẫn đến cháy. Tùy vào tính chất, mức độ thiệt hại của vụ cháy để phân loại quy trình xác minh, giải quyết theo trình tự Tố tụng hình sự (Giải quyết nguồn tin về tội phạm) hay trình tự giải quyết theo thủ tục hành chính. Việc phân loại vụ cháy để xác định thẩm quyền chủ trì xác minh, giải quyết vụ cháy được thực hiện theo Điều 18, Điều 19, Thông tư số 88/2024/TT-BCA.
1. Tiếp nhận, xử lý thông tin ban đầu vụ cháy
Khi vụ cháy xảy ra, lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH thường được tiếp nhận thông tin về vụ cháy sớm nhất do bị hại, lực lượng bảo vệ cơ quan, xí nghiệp, tổ chức xã hội, quần chúng nhân dân… báo cháy qua số điện thoại 114. Xuất phát từ đặc điểm vụ cháy và yêu cầu của hoạt động điều tra, khi tiếp nhận tin báo về vụ cháy, lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH tiếp nhận thông tin về vụ cháy thì thông báo cho Công an xã, phường, đồn (sau đây viết gọn là Công an cấp xã) nơi xảy ra cháy để tiến hành các hoạt động chữa cháy ngay từ cơ sở, đồng thời triển khai công tác chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; ngay sau khi đám cháy được dập tắt thì thực hiện nhiệm vụ xác minh, giải quyết ban đầu đối với vụ cháy và tiến hành các nhiệm vụ theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Thông tư 88/2024/TT- BCA.
Lưu ý: Sau khi thông báo cho các đơn vị để thực hiện nhiệm vụ chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ thì cán bộ trực ban tiếp nhận tin báo cháy nắm tình hình, tính chất, hậu quả của vụ cháy để lập biên bản tiếp nhận nguồn tin báo về vụ cháy (theo mẫu Thông tư 119) làm tài liệu đầu vào chuyển cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ cháy theo thủ tục tin báo, tố giác tội phạm. Trong biên bản tiếp nhận nguồn tin ghi rõ các trường thông tin của cá nhân người gọi điện báo, địa chỉ, số điện thoại…để làm căn cứ lập Phiếu chuyển nguồn tin.
- Công an cấp xã tiếp nhận thông tin ban đầu về vụ cháy có trách nhiệm ghi vào sổ trực ban của đơn vị và thông báo cho đơn vị Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ gần nhất, đồng thời cử cán bộ đến hiện trường vụ cháy thực hiện chức trách, nhiệm vụ theo quy định tại Điều 4 Thông tư 88/2024/TT-
Lưu ý: Sau khi thông báo cho đơn vị Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thì tuỳ theo tính chất vụ cháy, hậu quả, thiệt hại để lập biên bản tiếp nhận nguồn tin báo (theo mẫu Thông tư 119) chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xác minh, giải quyết vụ cháy sau khi công tác chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; công tác xác định sơ bộ thiệt hại về người, tài sản và đơn vị chủ trì xác minh vụ cháy kết thúc.
- Các cơ quan, đơn vị khác trong Công an nhân dân khi tiếp nhận thông tin ban đầu về vụ cháy, ghi vào sổ trực ban của đơn vị, đồng thời thông báo cho Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cấp tỉnh, Công an cấp xã hoặc đơn vị Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ gần nhất.
- Nội dung ghi nhận thông tin ban đầu vụ cháy:
+ Nguồn cung cấp thông tin;
+ Họ và tên, số điện thoại hoặc địa chỉ của người báo cháy;
+ Địa chỉ, thời gian xảy ra cháy;
+ Loại hình xảy ra cháy; quy mô vụ cháy; số lượng, tình trạng người bị mắc kẹt trong vụ cháy (nếu có); nguy cơ cháy lan và các thông tin khác liên quan đến vụ cháy;
+ Họ và tên, địa chỉ, số điện thoại của những người liên quan hoặc người biết về vụ cháy (nếu có).
2. Thực hiện nhiệm vụ tại hiện trường
Theo quy định tại Điều 17 Thông tư số 88/2024/TT-BCA, hoạt động điều tra vụ cháy thường bắt đầu từ điều tra tại hiện trường, trong đó có nhiệm vụ khám nghiệm hiện trường vụ cháy. Vụ cháy xảy ra khác biệt các vụ việc khác bởi việc tìm kiếm các chứng cứ chứng minh gặp nhiều khó khăn. Do vậy, những gì trên hiện trường thu thập được đều hết sức có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra. Do đó các cơ quan có mặt tại hiện trường cần phối hợp công việc cụ thể, tránh chồng chéo làm mất thời điểm vàng trong việc xác minh, làm rõ vụ cháy.
Khi tiếp nhận thông tin vụ cháy Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát PCCC và CNCH Công an tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo các lực lượng thuộc quyền quản lý thực hiện các nhiệm vụ tại hiện trường, cụ thể như sau:
2.1. Nhiệm vụ của Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH
(khoản 1 Điều 17 Thông tư số 88/2024/TT-BCA)
- Ghi nhận vị trí, tình trạng, đặc điểm của người bị nạn trước khi đưa ra khỏi hiện trường (nếu có);
- Thu thập thông tin về thời gian, vị trí, diễn biến vụ cháy, hướng phát triển của đám cháy, điểm xuất phát cháy, âm thanh, ánh sáng, mức độ khói, phạm vi hoặc diện tích cháy;
- Quan sát, phát hiện, ghi nhận sơ bộ các dấu vết, đồ vật, tài liệu tại hiện trường; ghi nhận những thay đổi ở hiện trường trong quá trình tổ chức chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ;
- Chụp ảnh hiện trường; ghi hình hiện trường trong trường hợp cần thiết;
- Thu thập thông tin về hoạt động chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ;
- Chủ trì, phối hợp các lực lượng xác định sơ bộ thiệt hại về người, tài sản;
- Chủ trì, phối hợp đại diện đơn vị trực tiếp chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ lập biên bản vụ cháy theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư 88/2024/TT-BCA.
2.2. Nhiệm vụ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh
(thực hiện các nhiệm vụ của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an cấp huyện quy định tại khoản 3 Điều 17 Thông tư số 88/2024/TT-BCA)
- Phối hợp với các lực lượng liên quan để xác định sơ bộ thiệt hại về người, tài sản;
- Chủ trì xác minh, giải quyết, tiếp nhận, bảo quản dấu vết, đồ vật, tài liệu tại hiện trường do các đơn vị khác bàn giao đối với vụ cháy có người chết hoặc bị thương.
2.3. Công an cấp xã, Đồn Công an
(khoản 1 Điều 17 Thông tư số 88/2024/TT-BCA)
- Bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản của cơ sở xảy ra cháy; bảo đảm an ninh, trật tự khu vực xảy ra vụ cháy theo quy định;
Từ thực tiễn chứng minh, các kết quả tại hiện trường (thông tin địa hình, kết cấu công trình, đồ vật, dấu vết cháy, dấu vết sinh học,…) thường là nguồn kết luận nguyên nhân cháy chủ yếu; Đặc trưng hiện trường vụ cháy thường xuất hiện nhiều người, nhiều đơn vị tham gia chữa cháy nên rất lộn xộn, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nhiều tình huống phức tạp (trộm cắp, hôi của, hủy hoại tài sản, che dấu hoặc tiêu hủy dấu vết phạm tội,…). Do đó công tác bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản của cơ sở xảy ra cháy, bảo đảm an ninh trật tự khu vực vụ cháy phải là công tác bắt buộc, cần ưu tiên thực hiện nhanh chóng.
- Phát hiện, thu thập, ghi nhận các dấu vết, đồ vật, tài liệu tại hiện trường có nguy cơ bị thay đổi, phá hủy; phối hợp các lực lượng xác định sơ bộ thiệt hại về người, tài sản;
- Xác định và lấy lời khai ban đầu của người biết việc, người có liên quan, đối tượng nghi vấn gây ra cháy;
Lấy lời khai là công tác xác minh ban đầu rất quan trọng để nhận định một phần bản chất của vụ cháy. Quá trình lấy lời khai, cán bộ cần phải có sự tìm hiểu, quan sát, đánh giá khách quan thông tin khai thác được để phát hiện điểm phù hợp hoặc mâu thuẫn với hiện trường và diễn biến vụ cháy.
- Thu thập thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ cháy, dữ liệu camera giám sát của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gần khu vực cháy (nếu có);
- Phối hợp với cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xác minh, giải quyết vụ cháy khi được yêu cầu;
- Báo cáo cụ thể tình hình có liên quan và bàn giao tài liệu, đồ vật đã thu thập cho cơ quan, người có thẩm quyền.
2.4. Xác định sơ bộ thiệt hại về người và tài sản
(Điều 18 Thông tư số 88/2024/TT-BCA)
a) Đơn vị chủ trì xác định thiệt hại:
Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ chủ trì, phối hợp các đơn vị liên quan xác định sơ bộ thiệt hại về người, tài sản (thực hiện nhiệm vụ của Đội Cảnh sát PCCC và CNCH hoặc Đội Cảnh sát QLHC về TTXH Công an cấp huyện trước thực hiện mô hình Công an địa phương 02 cấp).
Lưu ý: Nhiệm vụ này được quy định tại mục 1.1 Công văn số 2582/BCA- V01 ngày 13/6/2025 của Bộ Công an hướng dẫn tạm thời thực hiện công tác xác minh, giải quyết vụ cháy.
b) Thành phần tham gia xác định sơ bộ thiệt hại về người, tài sản gồm:
- Đại diện Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh;
- Đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh, Công an cấp xã nơi xảy ra vụ cháy. Trường hợp Điều tra viên, cán bộ điều tra thuộc Cơ quan CSĐT cấp tỉnh đang được bố trí tại Công an cấp xã thì sẽ tham gia thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền và phân công của Cơ quan CSĐT cấp tỉnh;
- Chủ cơ sở, chủ hộ gia đình, chủ phương tiện giao thông, chủ sở hữu hợp pháp của tài sản bị thiệt hại hoặc người đại diện hợp pháp (nếu có);
- Người chứng kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có kiến thức chuyên môn (nếu có);
Lưu ý: Để khách quan và xác định chính xác hơn giá trị tài sản bị thiệt hại trong vụ cháy thì đơn vị chủ trì có thể tham khảo trị giá tài sản, mời với người có chuyên môn, người kinh doanh, am hiểu về tài sản thời điểm bị thiệt hại tham gia định giá.
- Đại diện chính quyền địa phương nơi xảy ra vụ cháy.
c) Thực hiện xác định sơ bộ thiệt hại về người và tài sản (tổng giá trị nhà, công trình và các tài sản gắn liền với nhà, công trình; phương tiện giao thông; vật tư, thiết bị và các loại hàng hóa bị cháy hoặc các loại tài sản khác đủ căn cứ chứng minh, xác định giá trị)
- Việc xác định sơ bộ thiệt hại về người, tài sản dựa trên lời khai của chủ sở hữu hợp pháp của tài sản bị thiệt hại, các tài liệu về nguồn gốc, thời gian sử dụng của tài sản bị thiệt hại trong vụ cháy và tài liệu khác có liên quan (nếu có),
- Lập biên bản xác định sơ bộ thiệt hại và xác định đơn vị chủ trì giải quyết vụ cháy phải được lập Biên bản theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư 88/2024/TT- BCA.
- Trường hợp các thành phần tham gia xác định sơ bộ thiệt hại về người, tài sản và đơn vị chủ trì xác minh, giải quyết vụ cháy có ý kiến khác nhau thì đơn vị chủ trì quyết định kết quả xác định sơ bộ thiệt hại về người, tài sản.
2.5. Xác định thủ tục, đơn vị chủ trì xác minh, giải quyết vụ cháy
(Điều 19 Thông tư số 88/2024/TT-BCA)
Căn cứ kết quả xác định sơ bộ thiệt hại nêu trên, đơn vị chủ trì xác định sơ bộ thiệt hại về người, tài sản và các đơn vị có mặt tại hiện trường có trách nhiệm:
a) Xác định thủ tục xác minh, giải quyết vụ cháy
- Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ chủ trì xác minh giải quyết theo thủ tục hành chính khi có đủ các điều kiện: Vụ cháy đã được dập tắt; không có người chết hoặc bị thương, xác định sơ bộ ban đầu thiệt hại về tài sản dưới 100.000.000 đồng, xác định ban đầu không có dấu hiệu tội phạm;
- Vụ cháy không thuộc trường hợp trên thì xác minh, giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.
b) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh chủ trì xác minh, giải quyết ngay từ ban đầu đối với vụ cháy có người chết hoặc bị thương;
Việc chuyển giao hồ sơ, tài liệu ban đầu cho đơn vị chủ trì xác minh, giải quyết vụ cháy phải được lập biên bản theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư số 88/2024/TT-BCA.
c) Trường hợp vụ cháy do Bộ trưởng Bộ Công an, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp phân công đơn vị chủ trì xác minh, giải quyết thì thực hiện theo chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Công an, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp trên.
2.6. Bàn giao hồ sơ, tài liệu cho cơ quan chủ trì xác minh, giải quyết
(theo quy định tại Điều 19 Thông tư số 88/2024/TT-BCA)
Ngay sau khi Biên bản xác định sơ bộ thiệt hại ban đầu và xác định đơn vị chủ trì xác minh được lập, ký đủ các thành phần thì đơn vị chủ trì lập biên bản bàn giao các tài liệu, đồ vật đã thu thập được (gồm cả tài liệu do Công an cấp xã đã thu thập được) bàn giao cho đơn vị chủ trì xác minh, giải quyết vụ cháy để tiến hành các hoạt động xác minh, giải quyết theo quy định của pháp luật. Các thành phần có trong Biên bản có trách nhiệm tham gia cùng khám nghiệm hiện trường và các hoạt động điều tra, xác minh khác nếu được yêu cầu
III. QUY TRÌNH XÁC MINH, GIẢI QUYẾT VỤ CHÁY THEO THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
1. Quy trình xác minh, giải quyết
Căn cứ Thông tư số 88/2024/TT-BCA ngày 21/11/2024 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về phân công trách nhiệm, quan hệ phối hợp, quy trình xác minh, giải quyết vụ cháy trong Công an nhân dân (Thông tư số 88/2024/TT-BCA) và Văn bản số 542/BCA-C07 ngày 20/02/2025 của Bộ trưởng BCA hướng dẫn phân công, phân cấp thực hiện công tác PCCC, CNCH (văn bản số 542) và Công văn số 2582/BCA- V01 ngày 13/6/2025 của Bộ Công an hướng dẫn tạm thời thực hiện công tác xác minh, giải quyết vụ cháy. Theo đó, từ ngày 01/3/2025 công tác xác minh, giải quyết các vụ cháy theo thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH thực hiện theo trình tự, thủ tục cụ thể như sau:
- Cán bộ tiếp nhận tài liệu xây dựng báo cáo, đề xuất phân công cán bộ xác minh, giải quyết vụ cháy theo Mẫu số 07 ban hành kèm theo Thông tư số 88/2024/TT-BCA, báo cáo chỉ huy trực tiếp cho ý kiến trước khi trình lãnh đạo đơn vị.
- Lãnh đạo đơn vị duyệt, ký báo cáo, đề xuất phân công cán bộ xác minh, giải quyết vụ cháy trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, đề xuất giải quyết vụ cháy.
- Cán bộ được phân công xác minh, giải quyết vụ cháy thực hiện các nhiệm vụ:
+ Vẽ sơ đồ hiện trường vụ cháy theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư số 88/2024/TT-BCA; lập bản ảnh, gồm: Hiện trường chung, hiện trường chi tiết và ảnh đặc tả dấu vết với số lượng 02 ảnh mỗi loại, ảnh có kích thước 9x12cm, được dán trên mặt giấy A4, đánh số và chú thích dưới mỗi ảnh;
+ Lập biên bản ghi nhận lời khai cá nhân, tổ chức có liên quan vụ cháy;
+ Xây dựng báo cáo, đề xuất giải quyết vụ cháy theo Mẫu số 07 và Thông báo kết quả xác minh, giải quyết vụ cháy theo Mẫu số 08 ban hành kèm theo Thông tư số 88/2024/TT-BCA, báo cáo chỉ huy trực tiếp cho ý kiến trước khi trình người có thẩm quyền duyệt, ký;
- Lãnh đạo đơn vị duyệt, ký thông báo kết quả xác minh, giải quyết vụ cháy; gửi Thông báo kết quả xác minh, giải quyết vụ cháy đến: Cơ sở, hộ gia đình/chủ phương tiện giao thông/chủ sở hữu tài sản và chính quyền địa phương nơi xảy ra cháy.
- Trường hợp vụ cháy có dấu hiệu vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy:
+ Lãnh đạo đơn vị chỉ đạo xác minh tình tiết vi phạm hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính;
+ Cán bộ được phân công thực hiện xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
+ Lãnh đạo đơn vị ra quyết định xử phạt hoặc đề xuất người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
- Trường hợp vụ cháy được phân loại xác minh, giải quyết ban đầu theo thủ tục hành chính nhưng trong quá trình thực hiện phát hiện có dấu hiệu tội phạm không thuộc thẩm quyền thì cán bộ đươc phân công báo cáo đề xuất lãnh đạo chuyển toàn bộ hồ sơ, tào liệu liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền theo quy định tại Điều 38 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự: “Trong khi thi hành nhiệm vụ mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền Điều tra của Cơ quan Cảnh sát Điều tra thì chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án”.
2. Thời hạn xác minh, giải quyết
Theo quy định tại Điều 21 Thông tư số 88/2024/TT-BCA, thời hạn xác minh, giải quyết vụ cháy là 15 ngày làm việc kể từ ngày phân công giải quyết, trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần có thêm thời gian xác minh thì thời hạn xác minh, giải quyết không quá 30 ngày làm việc kể từ ngày phân công giải quyết và phải ghi vào Sổ theo dõi giải quyết vụ cháy theo thủ tục hành chính theo Mẫu số 10 ban hành kèm theo Thông tư này. Trường hợp vụ cháy có dấu hiệu vi phạm hành chính thì thời hạn giải quyết được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
IV. QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ CHÁY THEO TỐ GIÁC, TIN BÁO TỘI PHẠM
Xác minh, giải quyết vụ cháy theo tố giác, tin báo về tội phạm theo chức năng của lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH là hoạt động điều tra, giải quyết nguồn tin về tội phạm do Cơ quan cảnh sát PCCC và CNCH tiến hành theo quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự nhằm mục đích chứng minh có hay không có hành vi của tội phạm “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” được quy định tại điều 313 Bộ luật hình sự là nguyên nhân chính gây ra vụ cháy.
Lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH thực hiện công tác xác minh giải quyết vụ cháy theo trình tự giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trong các trường hợp sau:
- Vụ cháy không có thiệt hại về người (chết hoặc bị thương), tài sản thiệt hại sơ bộ xác định dưới 100 triệu đồng, có dấu hiệu của hành vi vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy;
- Vụ cháy đối với cơ sở thuộc diện quản lý không có thiệt hại về người (chết hoặc bị thương), tài sản thiệt hại sơ bộ xác định trên 100 triệu đồng, không có dấu hiệu của các tội phạm khác.
1. Tiếp nhận, phân công, giải quyết và xây dựng kế hoạch kiểm tra, xác minh vụ cháy theo tố giác, tin báo về tội phạm
Theo quy định tại Điều 22 Thông tư số 88/2024/TT-BCA, việc tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đối với vụ cháy được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT- VKSNDTC ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29 tháng 11 năm 2021; sau đây viết gọn là Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP- BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC), Thông tư số 28/2020/TT-BCA ngày 26 tháng 3 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng Công an nhân dân (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Thông tư số 129/2021/TT-BCA ngày 31 tháng 12 năm 2021; sau đây viết gọn là Thông tư số 28/2020/TT-BCA), cụ thể:
1.1 Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm:
- Cán bộ được phân công trực thực hiện tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thông qua tin báo vụ cháy từ Trung tâm thông tin chỉ huy của Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH hoặc hệ thống Cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ và truyền tin báo cháy và ghi vào “Sổ theo dõi tiếp nhận, phân loại nguồn tin về tội phạm”. Trường hợp, tiếp nhận qua một trong các hình thức khác (Công an cấp xã, Đồn Công an, các cơ quan, đơn vị khác trong CAND nhận được tin báo và thông báo cho Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH; người dân phát hiện, tự dập tắt, sau khi chữa cháy xong thì báo đến Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH thông tin vụ cháy thông qua hình thức trực tiếp, điện thoại, văn bản báo cáo…), cán bộ tiếp nhận phải lập “Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm” theo mẫu số 01 và ghi vào “Sổ theo dõi tiếp nhận, phân loại nguồn tin về tội phạm”.
- Trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH tiến hành phân loại để xác định thẩm quyền giải quyết:
+ Trường hợp xác định thuộc thẩm quyền thì giải quyết theo quy định tại Mục 3 Thông tư số 28/2020/TT-BCA.
+ Trường hợp xác định không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi có căn cứ xác định thẩm quyền thì chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, cùng các tài liệu có liên quan đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết; trường hợp không thể chuyển ngay thì phải thông báo bằng các hình thức liên lạc nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền biết và thực hiện chuyển theo quy định tại Điều 11 Thông tư số 20/2020/TT-BCA (phiếu chuyển nguồn tin về tội phạm theo biểu mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA).
+ Thông báo bằng văn bản về kết quả tiếp nhận cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm biết (trừ trường hợp người tố giác, báo tin từ chối cung cấp thông tin cá nhân).
- Phân công giải quyết: Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết, Trưởng phòng Cảnh sát PCCC và CNCH trực tiếp chỉ đạo việc thụ lý, giải quyết hoặc ra Quyết định phân công cấp phó, phân công Cán bộ điều tra thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Lưu ý: Đối với tố giác, tin báo về tội phạm sau khi tiếp nhận đã rõ về dấu hiệu của tội phạm, đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì Trưởng phòng hoặc Phó trưởng phòng được phân ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.
1.2. Lập, tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra, xác minh:
- Cán bộ điều tra được phân công xác minh, giải quyết vụ cháy phải xây dựng kế hoạch kiểm tra, xác minh báo cáo lãnh đạo, chỉ huy phụ trách để trình Cấp trưởng hoặc Cấp phó Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH phê duyệt theo Mẫu số 05 Thông tư số 88/2024/TT-BCA/2024/TT- BCA. Nội dung kế hoạch gồm:
+ Mục đích, yêu cầu của việc kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
+ Tóm tắt nội dung sự việc; đánh giá những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; những việc đã làm; những việc chưa làm.
+ Nội dung tiến hành: Xác định cụ thể các nội dung cần kiểm tra, xác minh để làm rõ; những tài liệu, chứng cứ cần phải thu thập, cách bảo quản vật chứng; việc gì cần làm trước, việc gì làm sau để đạt được hiệu quả cao nhất. Xác định các biện pháp có thể áp dụng trong quá trình kiểm tra, xác minh: có thể tiến hành các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật nếu xét thấy cần thiết. Xác định các biện pháp bảo vệ người tố giác, báo tin, người làm chứng, bị hại, người tham gia tố tụng khác và người thân thích của họ theo quy định của pháp luật (khi có yêu cầu hoặc nếu xét thấy cần thiết).
+ Thời gian tiến hành: cần xác định, đề xuất cụ thể thời gian tiến hành kiểm tra, xác minh nhằm đảm bảo thời gian giải quyết theo quy định của pháp luật.
+ Tổ chức thực hiện: Cần phân công nhiệm vụ cụ thể cho Cán bộ điều tra được phân công để thực hiện; đề xuất phương tiện sử dụng, kinh phí hỗ trợ; chế độ báo cáo khi có vấn đề đột xuất, phát sinh hoặc khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
- Cán bộ điều tra thụ lý được tiến hành các nội dung kiểm tra, xác minh theo Kế hoạch đã được phê duyệt, trong quá trình thực hiện Kế hoạch, nếu phát sinh vấn đề mới cần phải tiến hành các biện pháp kiểm tra, xác minh không có trong Kế hoạch thì cán bộ điều tra thụ lý chính phải báo cáo, đề xuất bằng văn bản với lãnh đạo, chỉ huy phụ trách cho ý kiến trước khi trình Trưởng phòng hoặc Phó trưởng phòng để xin ý kiến chỉ đạo; trường hợp cấp bách không thể báo cáo ngay bằng văn bản thì tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể có thể báo cáo bằng các hình thức liên lạc nhanh nhất với lãnh đạo, chỉ huy để xin ý kiến chỉ đạo, sau đó phải báo cáo lại bằng văn bản để lưu hồ sơ theo quy định.
Lưu ý:
- Cán bộ điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm không quá 20 ngày kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp vụ việc phát sinh nhiều tình tiết phức tạp, cần thêm thời gian để xác minh thì đề xuất cấp trưởng hoặc cấp phó Cơ quan PCCC để có văn bản đề nghị VKS phê chuẩn đề nghị gia hạn thời hạn giải quyết tin báo.
- Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh, chậm nhất 05 ngày trước khi hết thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, cấp trưởng, cấp phó được phân công (hoặc được ủy quyền) phải có văn bản đề nghị VKS cùng cấp gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh (Mẫu số 17 Thông tư số 119). Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị trên, VKS phải xem xét, quyết định. Trường hợp đề nghị của Cơ quan Cảnh sát PCCC là có căn cứ thì Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng VKS được phân công (hoặc được ủy quyền) phải ra Quyết định gia hạn thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm; thời hạn gia hạn giải quyết không quá 02 tháng kể từ ngày hết thời hạn.
1.3. Khám nghiệm hiện trường
Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, để có căn cứ xác định nguyên nhân vụ cháy, có dấu hiệu tội phạm hoặc không có dấu hiệu tội phạm, Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH có quyền tiến hành các hoạt động theo quy định tại Khoản 3 Điều 147 Bộ luật TTHS, Điều 14 Thông tư số 28/2020/TT-BCA và Điều 23 Thông tư số 88/2024/TT-BCA, cụ thể:
- Những việc làm trước khi KNHT gồm:
+ Tiếp nhận, nắm tình hình công tác bảo vệ hiện trường và thu thập thông tin về vụ cháy thông qua người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người tham gia chữa cháy.
+ Xác định phạm vi hiện trường, dấu vết, vật chứng, vị trí nạn nhân, tang vật, phương tiện (nếu có).
+ Xác định thành phần khám nghiệm (Chủ trì khám nghiệm là Trưởng phòng hoặc Phó trưởng phòng, cơ quan chủ trì khám nghiệm có thể mời thành phần tham gia khám nghiệm cho phù hợp như: Điều tra viên, Giám định viên, cán bộ KTHS, đại diện chính quyền cấp xã, Công an cấp xã, Đồn công an nơi xảy ra vụ cháy; cá nhân đại diện cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, chủ phương tiện; người chứng kiến; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…).
+ Phân công nhiệm vụ cho các thành viên tham gia khám nghiệm.
+ Chọn phương pháp khám nghiệm, chuẩn bị các phương tiện, thiết bị kỹ thuật, công cụ phục vụ cho công tác KNHT.
- Thực hiện KNHT vụ cháy theo thứ tự sau:
+ Quan sát toàn bộ khu vực xảy ra cháy; xác định vị trí hiện trường, xác định vật chuẩn (điểm làm mốc); xác định vị trí nạn nhân, điểm mốc để định vị vị trí dấu vết, đồ vật, tài liệu, phương tiện liên quan đến vụ cháy ở hiện trường (nếu có); đánh dấu vị trí và đánh số thứ tự của tất cả các nạn nhân, dấu vết, đồ vật, tài liệu, phương tiện có liên quan đến vụ cháy.
+ Khám nghiệm chi tiết hiện trường cháy thông qua quan sát, nghiên cứu các dấu vết cháy: nhận định sơ bộ về vùng cháy, điểm xuất phát cháy và đánh giá, phân loại các dấu vết thu được cụ thể:
- Vùng cháy đầu tiên, là một khoảng không gian xác định nằm trong đối tượng bị cháy mà bên trong nó có chứa điểm xuất phát cháy, từ vị trí này mà ngọn lửa bùng lên, lan truyền ra các hướng và chỉ được xác định một cách tương đối nhằm thu hẹp khoảng không gian cần khám nghiệm cụ thể trong toàn bộ hiện trường cháy, có tập trung trọng điểm nhằm đạt được mục tiêu quan trọng là xác định chính xác điểm xuất phát cháy; khi tiến hành xác định vùng cháy đầu tiên cần nắm rõ mô hình, kết cấu và chủng loại vật liệu các đối tượng bị cháy, bên cạnh đó phải nắm được sơ đồ sắp xếp hàng hoá, đồ vật, sơ đồ điện, các thiết bị dây chuyền công nghệ lặp đặt trong hiện trường cháy đồng thời xem xét thời tiết, hướng gió, cấp gió tại thời điểm xảy ra cháy.
- Điểm xuất phát cháy, là một vị trí có tọa độ không gian 3 chiều hoàn toàn xác định mà tại đó năng lượng của nguồn nhiệt đạt đến nhiệt độ bắt cháy của môi trường cháy và gây ra sự cháy đầu tiên; việc xác định điểm xuất phát cháy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác KNHT, đây là mục tiêu phải đạt được trong quá trình thực hiện KNHT bởi việc xác định được điểm xuất phát cháy mới cho phép tìm được chính xác nguồn nhiệt và chất mồi gây cháy; việc xác định chính xác về điểm xuất phát cháy và các yếu tố khác (như tại thời điểm phát hiện cháy tại đó có người hay không có người, khu vực đó có điện hay không có điện…) để đưa ra các giả thuyết về nguyên nhân xảy ra cháy.
+ Chụp ảnh hiện trường chung, hiện trường từng phần, ảnh chi tiết hiện trường; việc chụp ảnh đặc tả dấu vết, đồ vật phải đặt thước tỷ lệ; ảnh chụp hiện trường phải được lập thành Bản ảnh hiện trường và sắp xếp theo thứ tự, có chú thích từng ảnh; ghi hình hiện trường trong trường hợp cần thiết;
Đo và vẽ sơ đồ hiện trường: Sử dụng thống nhất ký hiệu, đơn vị đo; phần chú dẫn phải thể hiện tỷ lệ vẽ, dấu vết, ký hiệu trên sơ đồ hiện trường; có thể sử dụng các phần mềm đồ họa để vẽ sơ đồ hiện trường;
+ Phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản dấu vết, đồ vật, tài liệu, phương tiện tại hiện trường; thu mẫu so sánh (nếu có):
- Các loại dấu vết dùng để xác định vùng cháy đầu tiên và điểm xuất phát cháy, thường là một số dấu vết cháy đặc trưng như than hóa, ám khói, cong vênh biến dạng, bong tróc, biến đổi màu sắc… cần phải được mô tả thật kỹ, chi tiết trong biên bản KNHT và trên sơ đồ hiện trường; chụp ảnh, ghi hình toàn cảnh và chụp chi tiết về dấu vết; nếu thấy cần thiết phải thu lượm dấu vết thì phải tiến hành đảm bảo các yêu cầu trên.
- Các dấu vết, vật chứng dùng để xác định nguyên nhân, điều kiện dẫn đến vụ cháy (chỉ tiến hành tìm kiếm, thu thập vật chứng khi xác định được điểm xuất phát cháy; các dấu vết, vật chứng thường là tàn than tro, dấu vết ở ổ cháy, kênh cháy, các hạt kim loại nóng chảy…) phải được khai thác, thu lượm đóng gói và bảo quản, trong đó mô tả kỹ những dấu vết, vật chứng trong biên bản KNHT và trên sơ đồ hiện trường, chụp ảnh, ghi hình.
- Tiến hành thu lượm đóng gói bảo quản, việc thu lượm các dấu vết vật chứng tuỳ thuộc vào từng loại: Nếu là chất lỏng thì cho vào chai, lọ sạch đậy kín; nếu là than tro thì cho vào túi PE sạch, buộc kín; nếu là các vật thể khác như bóng đèn, hạt kim loại nóng chảy, dây dẫn điện cũng được cho vào túi PE sạch gói kín; nếu là chất khí thì trong trường hợp không có chuột khí thì dùng chai thuỷ tinh đổ đầy nước và đổ ra rồi đóng chặt nắp lại; các mẫu vật chứng, dấu vết phải được bảo quản độc lập, mẫu so sánh và mẫu cần giám định phải được đóng gói, bảo quản riêng biệt tránh nhiễm từ mẫu nọ sang mẫu kia.
- Đóng gói, niêm phong mẫu vật, bên ngoài các bao gói phải ghi tên vụ việc, loại dấu vết, vị trí, ngày, tháng, năm thu và có chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành phần tham gia theo quy định pháp luật.
- Sau khi kết thúc khám nghiệm tại hiện trường:
+ Lập Biên bản khám nghiệm hiện trường theo Mẫu số 163 và vẽ Sơ đồ hiện trường theo Mẫu số 167 ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA ngày 08 tháng 12 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự (sau đây viết gọn là Thông tư số 119/2021/TT- BCA). Nội dung biên bản khám nghiệm phải ghi thời gian bắt đầu và kết thúc việc khám nghiệm, địa điểm, thành phần tham gia khám nghiệm; tình trạng hiện trường trước khi khám nghiệm, điều kiện thời tiết, ánh sáng khi tiến hành khám nghiệm, quá trình khám nghiệm, cụ thể: Mô tả vị trí hiện trường, đặc điểm hiện trường (phương hướng, quang cảnh, cấu trúc, vị trí của hiện trường và khu vực trung tâm hiện trường); mô tả từng phần hiện trường; mô tả vị trí, đặc điểm (về loại, hình dáng, kích thước, chiều hướng, trạng thái, màu sắc), dấu vết, đồ vật, phương tiện phát hiện được tại hiện trường và mối quan hệ với các dấu vết, đồ vật, phương tiện khác ở hiện trường theo số thứ tự đã đánh dấu; ghi cụ thể số lượng dấu vết, đồ vật, phương tiện đã phát hiện, thu thập, cách thức bảo quản và các mẫu so sánh.
+ Đánh giá sơ bộ những dấu vết, đồ vật, phương tiện đã phát hiện, thu thập được, nhận định sơ bộ về thời điểm xảy ra cháy, điểm xuất phát cháy và vùng cháy đầu tiên; họp rút kinh nghiệm; thông qua biên bản khám nghiệm hiện trường, các thành phần tham gia ký xác nhận vào biên bản khám nghiệm, sơ đồ hiện trường. Người chủ trì khám nghiệm quyết định việc kết thúc hay tiếp tục bảo vệ hiện trường.
- Sau khi khám nghiệm hiện trường, cán bộ được phân công xác minh, giải quyết vụ cháy phải báo cáo kết quả khám nghiệm hiện trường vụ cháy theo Mẫu số 06 ban hành kèm theo Thông tư số 88/2024/TT-BCA/2024/TT- Nội dung báo cáo gồm: Tên vụ việc cháy; địa điểm xảy ra; thời gian phát hiện, xảy ra cháy; tóm tắt tình hình sự việc và những hoạt động ban đầu tại hiện trường; quá trình khám nghiệm hiện trường và kết quả; ý kiến phân tích, đánh giá, nhận định; đề xuất.
2. Thu thập và xử lý tài liệu liên quan đến vụ cháy
Theo quy định tại Điều 24 Thông tư số 88/2024/TT-BCA, căn cứ tính chất, đặc điểm của vụ cháy, đơn vị chủ trì xác minh, giải quyết vụ cháy thu thập, bổ sung tài liệu có liên quan cụ thể:
- Thu thập tài liệu liên quan đến hồ sơ về phòng cháy, chữa cháy của cơ quan quản lý đối với cơ sở, hồ sơ về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ của cơ sở, tài liệu liên quan khác (nếu có).
- Thu thập hồ sơ, tài liệu liên quan đến vụ cháy: Sơ đồ, bản vẽ, các tài liệu kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng, vận hành; nhiệm vụ của những người liên quan, hệ thống sổ sách, hóa đơn, chứng từ, tài liệu kiểm kê, kiểm tra.
- Thu thập các thông tin, tài liệu khác phục vụ việc xác định hành vi phạm tội của các đối tượng có liên quan đến vụ cháy.
3. Trưng cầu giám định và yêu cầu định giá tài sản đối với Cơ quan Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ
Theo quy định tại Điều 25 Thông tư số 88/2024/TT-BCA và Căn cứ Hướng dẫn số 02 Hướng dẫn số 02/HDLN-BCA-VKSNDTC ngày 31/01/2024 của Bộ Công an – Viện kiểm sát Nhân dân tối cao về việc Phối hợp thực hiện thủ tục trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân), cụ thể như sau:
- Khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 205 hoặc Điều 215 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đang thụ lý, giải quyết có văn bản đề nghị Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân cùng cấp tiến hành trưng cầu giám định hoặc yêu cầu định giá tài sản để làm căn cứ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.
- Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân khi nhận được văn bản đề nghị của Cơ quan Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ có trách nhiệm kiểm tra các căn cứ, tài liệu, đồ vật, mẫu vật. Trường hợp đủ điều kiện thì Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định, văn bản yêu cầu định giá tài sản. Trường hợp chưa đủ điều kiện để ban hành Quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, Cơ quan điều tra trao đổi, đề nghị Cơ quan Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ bổ sung các thông tin, tài liệu. Trường hợp Cơ quan điều tra xét thấy không cần thiết phải tiến hành trưng cầu giám định hoặc yêu cầu định giá tài sản thì thông báo bằng văn bản cho Cơ quan Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ và Viện kiểm sát cùng cấp biết.
- Cơ quan điều tra có trách nhiệm gửi Quyết định trưng cầu giám định, hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định cho tổ chức, cá nhân thực hiện giám định; gửi yêu cầu định giá tài sản, hồ sơ, đối tượng yêu cầu định giá tài sản cho Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu.
- Sau khi nhận được Kết luận giám định, Kết luận định giá tài sản, Cơ quan điều tra có trách nhiệm thông báo và chuyển Kết luận đó cho Cơ quan Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ để phục vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.
- Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ban hành văn bản đề nghị Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản thì Cơ quan Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ phải gửi văn bản đó cho Viện kiểm sát cùng cấp với Cơ quan điều tra được đề nghị.
- Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra Quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, Cơ quan điều tra phải gửi Quyết định, yêu cầu đó cho Viện kiểm sát cùng cấp và Cơ quan Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đã có văn bản đề nghị.
- Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được Kết luận giám định, Kết luận định giá tài sản, Cơ quan điều tra phải thông báo bằng văn bản và chuyển Kết luận đó cho Viện kiểm sát cùng cấp và Cơ quan Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đã có văn bản đề nghị.
4. Lấy lời khai của đại diện cơ sở, hộ gia đình, chủ phương tiện giao thông bị cháy, người làm chứng và người có liên quan
4.1. Nhận thức chung về lấy lời khai
- Lấy lời khai là một biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự được người Điều tra viên, cán bộ điều tra (gọi chung là Cán bộ điều tra) tiến hành nhằm thu thập chứng cứ từ lời khai của từng đối tượng điều tra cụ thể.
- Lấy lời khai là biện pháp điều tra được tiến hành bằng cách cán bộ lấy lời khai gặp trực tiếp người có liên quan để hỏi về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án, vụ việc hình sự mà người đó biết được. Hoạt động lấy lời khia là hoạt động điều tra không thể thiếu được trong công tác điều tra, giải quyết vụ án, vụ việc. Tuỳ vào đối tượng của hoạt động lấy lời khai để cán bộ điều tra dự kiến địa điểm làm việc, nội dung cần đạt được, cách thức làm việc.
- Việc hỏi và khai báo được thể hiện trong biên bản lấy lời khai theo Mẫu số 140 ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA.
- Lấy lời khai gồm các đối tượng sau:
+ Người người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc
+ Người làm chứng;
4.2. Lấy lời khai người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vụ việc
- Lấy lời khai người bị hại, đương sự được quy định tại Điều 188 BLTTHS năm Việc triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự được thực hiện như đối với người làm chứng. Tuy nhiên, Cán bộ lấy lời khai cần xác định rõ vai trò của lấy lời khai người bị hại, có thể họ vừa là bị hại nhưng đồng thời cũng là bị đơn dân sự hoặc là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (Chủ cơ sở thuộc diện quản lý về PCCC, chủ hộ gia đình, chủ phương tiện giao thông…) Do đó, tuỳ thuộc vào vụ việc cháy cụ thể mà cần phân loại để có cách lấy lời khai cho phù hợp. Lấy lời khai người bị hại có vị trí rất quan trọng trong việc thu thập và củng cố chứng cứ để điều tra, làm rõ vụ việc một cách nhanh chóng. Bởi vì người bị hại trong nhiều trường hợp thường trực tiếp tiếp phát hiện ra vụ cháy, nguyên nhân gây ra cháy… Chính vì vậy, trong hoạt động điều tra thường bắt đầu từ lấy lời khai người bị hại. Người bị hại có thể cố tình khai sai sự thật thường do những nguyên nhân cơ bản sau: sợ bị xử lý về hành vi vi phạm PCCC, mong muốn làm giảm thiệt hại về tài sản để không bị xem xét trách nhiệm hình sự…
- Trong quá trình lấy lời khai của người bị hại, Cán bộ lấy lời khai cần căn cứ vào tính chất và nội dung vụ án, vụ việc, những tin tức, tài liệu mà người bị hại có thể cung cấp, đặc điểm nhân thân của người bị hại, thái độ tham gia của người bị hại vào hoạt động điều tra để lựa chọn biện pháp lấy lời khai phù hợp.
- Trong trường hợp người bị hại bị thương nặng, bất tỉnh, có thể dẫn đến tử vong, sau khi cấp cứu và được phép của bác sỹ, Cán bộ lấy lời khai cần kịp thời lấy lời khai nếu xét thấy việc lấy lời khai này không tác động xấu đến tình trạng sức khỏe của người bị hại. Trong trường hợp nghiêm trọng như người bị hại đang hấp hối, việc lấy lời khai người bị hại cần được phép của bác sĩ và khi tiến hành phải có sự tham gia của cán bộ y tế với vai trò làn người chứng kiến. Khi lấy sinh cung, Cán bộ lấy lời khai cần phải ưu tiên làm rõ những tình tiết chính… để làm cơ sở tiến hành những biện pháp cấp bách và những biện pháp điều tra ban đầu. Nên ghi âm lại lời khai của người bị hại.
- Cần lưu ý khi lấy lời khia người chưa thành niên thì phải có người giám
hộ.
– Lấy lời khai người bị hại
+ Tình trạng sức khỏe của người bị hại.
+ Thời gian làm việc, sinh hoạt trong ngày của người bị hại cho tới lúc bắt
đầu xảy ra cháy đã diễn ra như thế nào? (kể tỉ mỉ).
+ Khu vực cháy có cấu trúc như thế nào?
+ Đã cất giữ, sắp xếp các đồ vật nào ở đâu? Như thế nào? (Đặc điểm trong khu vực vùng cháy, điểm xuất phát cháy cũng như xung quanh).
+ Những thiết bị điện có lắp đặt đúng quy cách hay không? Trạng thái của nó trước khi cháy? Đã sửa chữa những thiết bị đó lần nào chưa?
+ Những thiết bị điện đốt nóng khi sử dụng đặt ở vị trí nào? Khi chúng hoạt động có bắt buộc phải có người trông coi không? Ai đã cho những thiết bị đó hoạt động trước khi bị cháy?
+ Trạng thái của bếp dầu, đèn dầu, bếp lò, bếp củi, vị trí đặt chúng ở chỗ
nào?
+ Trong thời gian đó người bị hại có mâu thuẫn với ai không? Trước khi
thấy cháy người bị hại có cảm nhận thấy hiện tượng gì khác lạ không? (Tiếng động, mùi vị, độ sáng tối của đèn điện).
+ Yêu cầu, kiến nghị của người bị hại? Có nghi vấn gì đến nguyên nhân vụ cháy không? Có thuộc diện mua bảo hiểm cháy nổ bắt buộc không?
Đối với đại diện cơ sở, hộ gia đình, chủ phương tiện giao thông bị cháy thì nội dung lấy lời khai phải có thống kê, ước tính thiệt hại về tài sản. Nếu có tài liệu chứng minh tài sản bị thiệt hại thì đề nghị giao nộp và lập biên bản giao nhận theo quy định của pháp luật.
Quá trình lấy lời khai có thể diễn ra nhiều lần và phải đánh giá tính logic của lời khai so với các tài liệu khác, nhân chứng…
4.3. Lấy lời khai người làm chứng
- Người làm chứng là người biết được những tình tiết có liên quan đển nguồn tin về tội phạm, vụ việc xảy ra, được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến để lấy lời khai theo đúng thủ tục pháp luât. Đối với lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH, lấy lời khai người làm chứng được quy định tại các Điều 40 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- Lấy lời khai người làm chứng là một biện pháp điều tra phổ biến, cần được tiến hành một cách nhanh chóng, vì lời khai của người làm chứng thường là cơ sở để tiến hành những biện pháp cấp bách như khám nghiệm hiện trường, khám xét… Chính vì vậy, ngay sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, Cán bộ lấy lời khai cần phải khẩn trương xác định lấy lời khai của những người làm chứng nào để thu thập được những thông tin, tài liệu có ý nghĩa. Để bảo đảm khách quan trong quá trình lấy lời khai người làm chứng, nếu vụ việc có nhiều người làm chứng thì phải lấy lời khai riêng từng người và không để cho họ tiếp xúc, trao đổi với nhau trong thời gian lấy lời khai. Người có thẩm quyền phải triệu tập người làm chứng vào các thời điểm khác nhau hoặc trường hợp cần thiết phải triệu tập tất cả người làm chứng đến cùng một lúc thì phải tách riêng từng người làm chứng, mỗi người làm chứng do một Cán bộ lấy lời khai khác nhau thực hiện việc lấy lời khai. Không được cho người làm chứng nghe, xem được lời khai của nhau hoặc trao đổi với nhau trong lúc lấy lời Cán bộ lấy lời khai tổng hợp lời khai của những người làm chứng thành hệ thống những tài liệu, chứng cứ (chỉ rõ trong hệ thống đó, những lời khai nào là phù hợp với nhau, những lời khai nào là mâu thuẫn với nhau) để định hướng hoạt động điều tra, làm rõ sự thật của vụ việc.
- Một số câu hỏi trong lời khai người làm chứng:
+ Thời gian và địa điểm? Dựa trên cơ sở nào để xác định thời gian cháy?
+ Làm thế nào biết cháy xảy ra? Có phải tự nhân chứng biết có cháy xảy ra hay không và đã quan sát được gì? (Loại, độ lớn của ngọn lửa? Màu của khói? Cháy cái gì và cháy với quy mô như thế nào? Cháy ở đâu và màu của ngọn lửa như thế nào?). Nếu nhân chứng biết được có cháy xảy ra là do một người khác báo tin thì phải xác định nhân thân của người dó.
+ Nhân chứng ở đâu, làm gì trong thời điểm nhận biết có cháy? (Xác định chính xác chỗ đứng và hướng nhìn).
+ Nhân chứng đã ở đâu trước lúc xác định có cháy? Và sau khi xác định có cháy đã làm gì? (Báo cho ai? Từ vị trí ấy còn nhìn thấy ai nữa? Nhân chứng bắt đầu tới khi cháy khi nào? Đến đó vào lúc nào? Đã gặp những ai có mặt trong khu vực cháy? Lúc đến nơi đám cháy đã lan rộng ra như thế nào?.
+ Những người nào (Ghi rõ nhân thân và đặc điểm nhận dạng) có mặt ở khu vực bị cháy khi nhân chứng tới nơi? (Những người đó đang làm gì? Họ đã kể lại những gì về đám cháy đó?).
+ Nhân chứng có tham gia vào những công việc chữa cháy và cứu người, tài sản không?
+ Mối quan hệ của nhân chứng với người bị hại, địa điểm, cơ quan tổ chức bị xảy ra cháy.
+ Hiệu quả hoạt động của các phương tiện, thiết bị chữa cháy tại chỗ như thế nào? Đã sử dụng những phương tiện chữa cháy gì? Trách nhiệm của lực lượng chữa cháy cơ sở khi nhận được thông tin cháy…
- Trường hợp lấy lời khai của người nước ngoài, người câm, người điếc liên quan đến vụ cháy, khi lấy lời khai phải yêu cầu người phiên dịch, người dịch thuật theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và các quy định pháp luật liên quan.
5. Đánh giá các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra để xây dựng báo cáo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm và Ban hành các Quyết định tố tụng
5.1. Báo cáo kết quả xác minh, giải quyết vụ cháy theo tố giác, tin báo về tội phạm
(Điều 27 Thông tư số 88/2024/TT-BCA)
- Trên cơ sở kết quả kiểm tra, xác minh, chậm nhất là 07 ngày trước khi hết thời hạn giải quyết hoặc khi kết thúc việc kiểm tra, xác minh vụ cháy thì Cán bộ điều tra được phân công thụ lý chính phải có báo cáo kết thúc việc xác minh hoặc đề xuất gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh bằng văn bản báo cáo lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp cho ý kiến trước khi trình Trưởng phòng hoặc Phó trưởng phòng Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH được phân công.
- Báo cáo kết thúc việc xác minh theo Mẫu số 18 ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA phải nêu rõ kết quả giải quyết vụ cháy và đề xuất cụ thể về việc: Khởi tố vụ án hình sự; không khởi tố vụ án hình sự; tạm đình chỉ việc xác minh giải quyết vụ cháy.
5.2. Ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định tạm đình chỉ, Quyết định phục hồi và thời hạn tiếp tục giải quyết vụ cháy (Điều 28 Thông tư số 88/2024/TT-BCA)
a) Trường hợp có dấu hiệu tội phạm
- Dự thảo Quyết định khởi tố vụ án hình sự theo Mẫu số 27 ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA và Báo cáo kết thúc việc xác minh vụ cháy theo mẫu số 46 Thông tư số 119, cùng hồ sơ, tài liệu liên quan báo cáo lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp cho ý kiến trước khi trình Trưởng phòng hoặc Phó trưởng phòng Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH được phân công duyệt, ký.
- Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ phải gửi Quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ chuyển Quyết định khởi tố vụ án hình sự, kèm theo tài liệu liên quan đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Khi chuyển phải lập Biên bản giao nhận hồ sơ theo Mẫu số 240 ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA (trường hợp có đồ vật, tài liệu, vật chứng thì phải lập Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng theo Mẫu số 155 ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA).
b) Trường hợp không có dấu hiệu tội phạm
- Dự thảo Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, Thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm theo Mẫu số 22 và Mẫu số 23 ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA kèm theo Báo cáo kết thúc việc xác minh vụ cháy, hồ sơ, tài liệu liên quan báo cáo Trưởng phòng hoặc Phó trưởng phòng Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH được phân công duyệt, ký ban hành.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ phải gửi Quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền.
- Xử lý vi phạm hành chính:
+ Vụ cháy do Cơ quan điều tra thụ lý có dấu hiệu vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra được phân công thụ lý chính của Cơ quan điều tra dự thảo văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính báo cáo lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp cho ý kiến và trình Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công (hoặc được ủy quyền) duyệt, ký; sao hồ sơ, tài liệu để nộp lưu và chuyển hồ sơ, tài liệu (bản chính), tang vật, phương tiện (nếu có) của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Công an cấp tỉnh để thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
+ Vụ cháy do Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thụ lý có dấu hiệu vi phạm hành chính thì cán bộ được phân công thụ lý thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
c) Sau khi hoàn thành việc xác minh, giải quyết vụ cháy, Cán bộ điều tra được phân công hoàn chỉnh hồ sơ, báo cáo người có thẩm quyền kết thúc việc xác minh, giải quyết vụ cháy; thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo quy định.
d) Việc ra Quyết định tạm đình chỉ, Quyết định phục hồi và thời hạn tiếp tục giải quyết vụ cháy thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Thông tư số 28/2020/TT-BCA và các văn bản pháp luật có liên quan.
6. Lập, quản lý hồ sơ vụ cháy
6.1. Thành phần Hồ sơ xác minh, giải quyết vụ cháy theo thủ tục hành chính
(Điều 30 Thông tư số 88/2024/TT-BCA):
- Biên bản vụ cháy; biên bản xác định sơ bộ thiệt hại về người, tài sản và đơn vị chủ trì xác minh, giải quyết vụ cháy; Biên bản tham khảo trị giá tài sản (nếu có).
- Bản ảnh, sơ đồ hiện trường vụ cháy;
- Biên bản ghi nhận lời khai cá nhân, tổ chức có liên quan đến vụ cháy;
- Báo cáo đề xuất giải quyết vụ cháy; thông báo kết quả xác minh, giải quyết vụ cháy;
- Quyết định trưng cầu, kết luận giám định (nếu có);
- Biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt vi phạm hành chính (nếu có), các tài liệu khác theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính có liên quan (nếu có);
- Thống kê tài liệu có trong hồ sơ; biên bản bàn giao hồ sơ và tài liệu khác có liên quan (nếu có);
- Báo cáo, bản tường trình, cam kết không khiếu nại, khiếu kiện, tranh chấp và tự khắc phục hậu quả của đại diện cơ sở, hộ gia đình, chủ phương tiện giao thông, chủ sở hữu hợp pháp của tài sản bị thiệt hại (nếu có).
6.2. Thành phần Hồ sơ xác minh, giải quyết vụ cháy theo tố giác, tin báo tội phạm
(Điều 30 Thông tư số 88/2024/TT-BCA):
- Biên bản vụ cháy; biên bản xác định thiệt hại về người, tài sản và đơn vị chủ trì xác minh, giải quyết vụ cháy; biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm;
- Quyết định phân công Điều tra viên, Cán bộ điều tra thụ lý điều tra giải quyết vụ cháy; Quyết định phân công Phó Thủ trưởng thụ lý điều tra giải quyết vụ cháy (nếu có); thông báo tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; kế hoạch xác minh, giải quyết vụ cháy;
- Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường, báo cáo kết quả khám nghiệm hiện trường;
- Biên bản ghi lời khai của đại diện cơ sở, hộ gia đình, chủ phương tiện giao thông bị cháy, người làm chứng và người có liên quan;
- Báo cáo đề xuất giải quyết vụ cháy; báo cáo kết thúc giải quyết nguồn tin về tội phạm;
- Quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm;
- Quyết định hủy bỏ Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định phục hồi việc giải quyết nguồn tin về tội phạm (nếu có);
- Thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm;
- Văn bản đề nghị trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, quyết định trưng cầu giám định, văn bản yêu cầu định giá tài sản; kết luận giám định, kết luận định giá tài sản; thông báo kết luận giám định, thông báo kết quả định giá tài sản; tài liệu chứng minh thiệt hại về người (giấy chứng thương, đơn thuốc), tài sản, các tài liệu về thỏa thuận bồi thường thiệt hại, dữ liệu ghi hình (nếu có);
- Biên bản vi phạm hành chính; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, biên lai thu tiền phạt (nếu có);
- Hồ sơ về phòng cháy, chữa cháy của cơ quan quản lý đối với cơ sở, hồ sơ về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ của cơ sở;
- Các tài liệu của Viện Kiểm sát liên quan đến vụ cháy;
- Thống kê tài liệu có trong hồ sơ và các tài liệu khác có liên quan đến vụ cháy (nếu có);
- Các tài liệu khác (nếu có).
6.3. Tài liệu cung cấp cho đối tượng mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc hoặc doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm
(Điều 31 Thông tư số 88/2024/TT- BCA)
Việc cung cấp tài liệu cho doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, đối tượng mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc theo Mẫu số 09 ban hành kèm theo Thông tư này và kèm theo những tài liệu sau:
- Thông báo kết quả giải quyết nguồn tin tội phạm hoặc thông báo kết quả xác minh, giải quyết vụ cháy;
- Biên bản kiểm tra về phòng cháy, chữa cháy gần nhất.
Lưu ý:
(1) Văn bản, tài liệu trong hồ sơ vụ án hình sự chuyển Cơ quan điều tra có thẩm quyền: Tuỳ theo tính chất của từng vụ án cụ thể, số lượng và thể loại các tài liệu cần thiết trong từng hồ sơ vụ án có thể khác nhau, nhưng thông thường trong hồ sơ vụ án có các tài liệu sau đây:\
- Các tài liệu làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự (hồ sơ xác minh, giải quyết nguồn tin về tội phạm,…);
- Quyết định khởi tố vụ án hình sự;
- Quyết định phân công cấp phó giải quyết nguồn tin về tội phạm (mẫu số 09- Dùng cho cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra);
- Quyết định phân công Cán bộ điều tra giải quyết nguồn tin về tội phạm (mẫu số 10- Dùng cho cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra);
- Quyết định phân công cấp phó, cán bộ điều tra trong việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự (mẫu số 46- Dùng cho cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra);
- Biên bản khám nghiệm hiện trường (mẫu số 163); Bản ảnh (mẫu số 169), sơ đồ hiện trường (mẫu số 167), biên bản khám phương tiện (nếu cháy, nổ trên phương tiện giao thông hoặc có phương tiện giao thông bị cháy ở hiện trường- không liên quan TNGT, mẫu số 166 ban hành kèm theo Thông tư 119/2021/TT- BCA); Biên bản xác định hiện trường (mẫu số 161); Biên bản dựng lại hiện trường (mẫu số 164);
- Biên bản ghi lời khai của người làm chứng, người bị hại, đương sự;
- Biên bản lấy lời khai của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- Lệnh khám xét; Đề nghị phê chuẩn Lệnh khám xét (nếu có);
- Biên bản khám xét (nếu có);
- Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu;
- Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử;
- Thống kê tài liệu có trong hồ sơ vụ án;
- Biên bản giao, nhận hồ sơ vụ án/vụ việc (mẫu số 240).
(2) Theo quy định về công tác hồ nghiệp vụ của lực lượng CSND thì mỗi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi có quyết định của cấp trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phân công cấp phó, cán bộ điều tra giải quyết lập 01 hồ sơ vụ việc xác minh ban đầu (ký hiệu là AĐ).
(3) Cán bộ điều tra thụ lý chính thuộc Cơ quan Cảnh sát PCCC phải đăng ký vào sổ thụ lý của đơn vị, lập, đăng ký hồ sơ vụ việc xác minh ban đầu và quản lý, sử dụng, kết thúc, nộp lưu theo quy định của Bộ Công an về hồ sơ vụ việc xác minh ban đầu, hồ sơ vụ án hình sự, hồ sơ vi phạm pháp luật hình sự chưa đến mức khởi tố có quyết định xử lý hành chính, chuyển loại hồ sơ.
(4) Hồ sơ vụ việc xác minh ban đầu khi có đủ căn cứ thì tiến hành chuyển loại theo quy định về chế độ công tác hồ sơ nghiệp vụ; phải nộp lưu trong thời hạn không quá 01 tháng kể từ khi kết thúc. Tài liệu trong hồ sơ vụ việc khi kết thúc nộp lưu phải là tài liệu có giá trị nghiên cứu, sử dụng, bao gồm bản chính hoặc bản sao hợp pháp (sao lục, sao y bản chính); phải quản lý hồ sơ theo chế độ mật, không để mất, hư hỏng hồ sơ.
(5) Trong trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì sau 02 năm kể từ ngày có quyết định tạm đình chỉ, nếu chưa có tình tiết mới làm căn cứ phục hồi việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì cơ quan thụ lý được nộp lưu hồ sơ. Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thay thế quyết định kết thúc. Sau khi nộp lưu, cơ quan thụ lý phải thường xuyên rà soát, khi phát hiện có tình tiết mới cần xem xét thì được rút hồ sơ đã nộp lưu để phục hồi việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Cấp trưởng hoặc Cấp phó thuộc cơ quan khác trong CAND được giao tiến hành một số hoạt động điều tra ký chứng thực (sao lục, sao y bản chính), đóng dấu cơ quan mình vào bản sao tài liệu;
(6) Các tài liệu làm căn cứ cho việc khởi tố vụ án trong các trường hợp khác nhau thường có các văn bản tài liệu như sau:
- Đối với vụ án hình sự được khởi tố qua việc xác minh giải quyết nguồn tin về tội phạm, phải có các tài liệu sau:
+ Đơn, thư tố giác, tin báo về tội phạm (của công dân, của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, trên các phương tiện thông tin đại chúng); báo cáo tiếp nhận nguồn tin về tội phạm (của cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận, phân loại, giải quyết…)
+ Quyết định phân công cho cấp phó, cán bộ điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm;
+ Biên bản ghi lời khai người tố giác, tin báo về tội phạm, người bị tố giác, bị hại, người làm chứng, đương sự.
+ Các tài liệu về kết quả kiểm tra, xác minh giải quyết nguồn tin về tội
phạm.
- Đối với vụ án hình sự được khởi tố (giải quyết vụ việc có dấu hiệu tội
phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện theo quy định tại Điều 151 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) qua công tác khám nghiệm hiện trường và điều tra ban đầu, thường có các tài liệu sau:
+ Biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường; bản ảnh; biên bản khám nghiệm phương tiện;
+ Biên bản ghi lời khai của người biết việc, người bị hại, người bị tố giác về tội phạm, người có liên quan đến vụ việc xảy ra;
+ Văn bản yêu cầu xác định về chuyên môn và bản trả lời kết quả.
7. Công tác chuyển giao hồ sơ, chế độ thông tin, báo cáo và tiêu chí phân loại vụ cháy
7.1. Công tác chuyển giao hồ sơ
- Vụ cháy do Cơ quan điều tra ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, Quyết định hủy bỏ Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định đình chỉ điều tra hoặc Quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính về phòng cháy, chữa cháy thì chuyển quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 28 Thông tư số 88/2024/TT-BCA;
- Khi chuyển giao hồ sơ phải thực hiện đúng theo quy định, hướng dẫn của Bộ Công an về công tác hồ sơ nghiệp vụ Công an nhân dân.
7.2. Chế độ thông tin
- Trong thời hạn 10 ngày kể từ khi có kết quả giải quyết, Cơ quan Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ phải có thông báo bằng văn bản gửi Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ biết;
- Trong thời hạn 10 ngày kể từ khi có kết quả giải quyết, Cơ quan điều tra các cấp chủ trì xác minh, giải quyết vụ cháy theo thẩm quyền sau khi kết thúc điều tra phải thông báo kết quả giải quyết bằng văn bản cho cơ quan Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cùng cấp để phục vụ công tác thống kê, báo cáo về vụ cháy theo quy định.
7.3. Trường hợp chưa thống nhất về các dấu hiệu
được coi là dấu hiệu của tội phạm hoặc dấu hiệu vi phạm hành chính giữa cơ quan chuyển giao và cơ quan tiếp nhận hồ sơ để điều tra, giải quyết vụ cháy thì cơ quan thụ lý hồ sơ có trách nhiệm báo cáo cấp trên trực tiếp của mình để xin ý kiến chỉ đạo.
7.4. Chế độ báo cáo
Công an các địa phương thực hiện chế độ thống kê, báo cáo và gửi về Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ:
- Hàng tháng thống kê số liệu xác minh, giải quyết vụ cháy theo Mẫu số 11 và Mẫu số 12 ban hành kèm theo Thông tư số 88/2024/TT-BCA;
- Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ 06 tháng và 01 năm theo quy định tại Thông tư số 66/2022/TT-BCA ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chế độ báo cáo trong Công an nhân dân.







